Wednesday, February 21, 2018

NỤ CƯỜI AN NHIÊN CỦA BẠN

Lữ Kiều

Tĩnh vật. Thân Trọng Minh

            Tôi đến thăm chị Bùi Ấu Lăng vào buổi sáng. Chị bệnh, đang nằm thiêm thiếp, cố gắng nhỏm dậy khi tôi bước vào. Chúng tôi là đôi bạn nửa thế kỷ, đủ thân tình để ngồi lại với nhau trong những phút khó khăn này.
            Tôi nói với chị rằng, chịu đựng thân xác mình cũng mỏi mệt lắm, nhưng thôi, phải thương lấy nó vì thân xác chung thủy với ta cho đến phút cuối đời.
            Chị cười, nụ cười An Nhiên Tự Tại của một người đã chiêm nghiệm giới hạn của sống – chết.Bởi chị đã qua đau khổ nên hiểu hạnh phúc. Đã thấm thía tình đời nên hiểu giá trị sự sống. Trong đó có những ràng buộc với người thân, mà vì họ, đôi khi ta phải quên đi thân mình, nhưng cùng vì họ, phải giữ lấy xác phàm hư hoại, đứng dậy sau mỗi lần ngã xuống, với một nụ cười. Nụ cười cho mọi người, nhưng nước mắt cho riêng mình.
            Chị đã chiến đấu với căn bệnh trầm kha trên mười năm, 10 năm với người bệnh dài vô tận so với người không bệnh. Là thầy thuốc, là con bệnh, là người bạn, tôi chia xẻ với chị điều ấy, về cuộc sống triển hạn, cho dù tôi biết rằng chúng ta không thể gánh dùm nhau nỗi đau, nhưng làm nhẹ đi một ít, một chút thôi, thì biết đâu, có thể …
            Trong ánh sáng mờ đục của căn phòng chị đang nằm, tôi thấy mọi chuyện mù mờ hư ảo như quá khứ…như trí nhớ…
            Tôi nhắc đến một thời tuổi trẻ, ngôi trường cũ, những người bạn còn, mất, ở gần hoặc ở xa. Đôi mắt chị sáng lên, như thể sống lại những ngày vui cũ.
            Đó là những năm tháng đầu thập niên 60, chị là chị Cả trường Đồng Khánh bước chân vào lớp đệ nhất văn chương trường Quốc Học. Chị Cả có nghĩa là người nhận phần thưởng danh dự toàn trường (điều chị đã ghi trong tiểu sử của mình, để thấy chị trân quý phần thưởng năm đệ nhị C 1959-1960 của trường Đồng Khánh). Chị nhớ đến những ngày học tập và văn nghệ, những buổi thuyết trình hằng tháng cho toàn trường tham dự mà chị là người khởi đầu với bài nói chuyện “Du xuân qua các miền Đất Nước”. Chị kể về ban Thi Ca Học Sinh của đài phát thanh Huế mà anh bạn Trần Ngọc Thao làm trưởng ban, chị làm phó ban, có Huỳnh Văn Uyên thổi sáo. Trần Ngọc Thao sau này là nhà văn Cung Tích Biền.
            Tôi nói về cuốn biên khảo “Hoa Tiên: một tình yêu đích thực” vừa in xong, thơm mùi giấy mới vừa đem từ nhà xuất bản về, chị trân trọng kí tặng bản đầu tiên cho tôi. Đó là cuốn luận văn cao học văn chương của chị, trình bày năm 1974 tại viện đại học Đà Lạt trước ban giám khảo gồm có kịch tác gia Vũ Khắc Khoan, học giả Giản Chi và giáo sư Lê Hữu Mục, là những tác giả hàng đầu của văn học miền Nam, mà tên tuổi của họ bảo đảm cho chất lượng  luận văn của chị.
            Không phải chỉ là một luận văn, mà là một công trình nghiên cứ nghiêm túc của thầy và trò, là tình yêu với áng cổ văn xuất chúng bị quên lãng vì người, vì đời, vì thời gian…
            Đã 35 năm, bản thảo cuốn sách nằm đáy tủ. Hình như cả thời thanh xuân Bùi Ấu Lăng gắn liền với chữ nghĩa tác phẩm Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, lúc còn đi học, lúc làm sinh viên sư phạm Việt văn, lúc đi dạy ở trường Bùi Thị Xuân Đà lạt và cuối cùng là luận văn cao học cũng về tác phẩm ấy. Chị cười. Chị kể về những ngày mưa gió Đà lạt, tìm vô Chi Lăng để gặp cụ Giản Chi, để phiên âm từng dòng thơ Hoa Tiên, bàn bạc từng cách đọc các dị bản…
            Tôi nói với chị rằng giờ đây số người biết đến Hoa Tiên không nhiều, nhất là về người nhuận sắc Hoa Tiên là Nguyễn Thiện, một tác giả cùng quê và có bà con với Nguyễn Du, đối tượng nghiên cứu của luận văn. Tôi nói về công phu phiên âm và tổng kết những dị bản của tác phẩm. Và nhất là chị đã chỉ ra hơi thơ Truyện Kiều trong bản Hoa Tiêu nhuận sắc…Chị nói, ừ, thì theo Thầy khó lắm nhưng mình học được rất nhiều, từ kiến thức đến nhân cách. Những ngày ấy, chị mới 32 tuổi.
            Giờ đây sau 35 năm, chị cho in lại, giới thiệu lại một tác phẩm bị quên lãng, như trả nợ cho tiền nhân. Sách giữ nguyên chữ nghĩa 35 năm trước, không đổi một chữ. Chị cười, nụ cười an lạc, càng an lạc khi hơn trong chữ nghĩa, vì chữ nghĩa không có tuổi, còn chúng tôi thì mang nặng gánh thời gian…
            Buổi sáng trong căn phòng mờ ảo, chúng tôi nhắc đến những mối tình học trò tan vỡ và bền chặt. Tôi ngồi, nghe chị nói lòng nhẹ nhàng nghĩ về những điều không nói được giữa hai người, nhưng vẫn chia xẻ được bằng im lặng. Tôi nghĩ đến những tế bào ung thư đâu đó trong chúng ta. Có Hoại mới có Diệt. Đơn giản thôi, cớ sao lòng ta sắt se làm vậy!
            Tôi nói với chị, nỗi đau như ly rượu đắng, đôi khi ta thử nghiêng ly chia bớt cho người. Mắt chị long lanh. Có thể vì hàng nước mắt sắp rơi, nhưng cũng có thể vì một nụ cười sắp hé lộ.
            Tôi gỡ miếng thuốc dán trên bụng chị. Đó là miếng dán có tên DUROGESIC, loại thuốc giảm đau cực mạnh của nền y học hiện đại.
            Tôi nói: Bạn hãy cố gắng ngủ đi, quên đi, quên cơn đau, quên mình, quên người. Thực ra, quên cũng là một đức tính.
LỮ KIỀU
1.2010

TÔI ĐI DƯỚI TRỜI MƯA THƯA

nguyễn xuân thiệp

Hoa hải đào trong mưa. Hình Internet

áo mỏng
đầu trần. tóc phơi. mùa gió
tôi đi dưới trời mưa thưa

ôi em
có nhìn thấy tôi
và những con vịt ngày nào
bên bờ nước
chúng nhớ những vụn bánh mì của em rải cho chúng ăn
khi những bông hoa màu tím lấm tấm
nở muộn trong chiều
con bướm monarch ngày nào. cũng trở về. đậu
trên cọng lau khô
a. chú bé da đen ra đứng ngửa cổ lên trời. thè lưỡi
hứng những giọt mưa
chợt thấy lại cậu bé con là tôi. ngày nào ở vương
              phủ. cũng áo mỏng. đầu trần đi dưới trời
              mưa thưa. ngước mắt tìm ngọn cây. và
mái tóc. trăng

chiều nay
tôi đi
những cây myrtle vật vã trong mưa
bên kia con lạch. dòng xe cộ vẫn nối đuôi nhau
một chiếc xe buýt vừa dừng lại
dường như chiếc buýt đã chạy không ngừng. từ
thanh xuân tôi ở ngã tư phú nhuận
cho tới bây giờ
một tiếng còi vừa vang lên
trong mưa
thấy lại. người con gái mặc áo vàng xuống xe. đi về
                             trong ngõ xóm. sau hồ rau muống
em có về với tôi chiều nay

tôi đi dưới trời mưa thưa
đi mãi đi hoài. không về tới nhà mình
Nguyễn Xuân Thiệp

Sunday, February 18, 2018

TẢN MẠN ĐẦU NĂM

Nguyễn Quang Chơn


Cà phê Starbucks

Mồng 4 tết, trời nắng đẹp. Thành phố còn được ăn tết thêm 1 ngày, bù ngày lễ rơi vào cuối tuần...

Đưa Tâm đi cà phê. Starbucks mới khai trương quán đầu tiên ở ĐN, bên bờ sông Hàn, gần chiếc cầu quay. Vị trí đẹp. Tên quán đẹp. Tôi muốn đến để tưởng nhớ một người anh yêu quí, người hay đi về phía mặt trời lặn, phía có còi hụ con tàu, có rừng phong trầm mặc để đến quán Starbucks thân quen...., đó là Hoạ sĩ tài danh Đinh Cường, và tôi gọi thêm một một ly đen với chiếc bánh croissant, như ngày xưa ngồi với anh, thường hay thế!...
....
 
Vậy là thêm một năm mới, lại thêm một tuổi già. Mình thì không sao, nhưng cứ lo ngại về những người anh lớn, những văn nhân của miền nam Việt, còn hiếm hoi trong "cõi người ta" này. Những anh LQ, HXS, TV, ĐHN, NM, ĐT, KĐ, THT, PCH..., các anh đã đều trên 70, cái tuổi hiếm và cái tuổi mong manh!....

Đầu xuân, đôi khi mở máy thấy một bài thơ. Thấy một câu thăm hỏi. Lòng vui nhẹ nhàng. Như vậy là trong đời sống của mình vẫn còn lung linh những bông hoa quí. Còn đâu đó niềm tin yêu trong sáng để mơ đến một ngày mai...

Tôi vẫn bước đi trên con đường đầy những cung bậc của cuộc đời. Tôi cũng trải qua những nét văn hoá khác biệt của hai chế độ. Tôi cũng đã có những người bạn mới cũ. Tôi cũng đã nghe nhạc PD, TCS, CT...., với những giọng ca TT, KL, LT, AN, SP..., để rồi lại thấy những HNH, ĐVH, TL nhố nhăng nhún nhảy với những rap riếc xa lạ, ... Cuộc đời là vậy. Nó vẫn trôi đi. Chúng ta vẫn sống, ăn, ngủ và thở. Rồi chết.... Làm thế nào để ăn thấy ăn sạch. Ngủ thấy ngủ yên. Thở thấy thở điều hoà. Để rồi chết thật bình an. Như TCS, "nằm chết như mơ!"...

Thế giới bây chừ dường như nhỏ lại. Nhớ nhau chỉ cần bấm phím face time là nói chuyện cười đùa như đang cùng bên cạnh, dẫu cách xa cả một đại dương. Mọi thông tin đều được cập nhật. Bà nữ hoàng Anh sổ mũi, thế giới đều biết. Ông tổng thống Nga vừa có cái đồng hồ mạ vàng, thế giới đều hay. Vậy mà lòng người vẫn còn sâu thăm thẳm, nhiều khi còn dấu những hận thù!...

Năm nay là năm Mậu Tuất. Chó thì nhiều loại chó. Nhưng hầu hết giống chó vốn trung thành. Nhiều dân tộc quí mến chó như Âu Mỹ, nhưng chó cũng bị ngược đãi, mắng nhiếc, như ông quan nọ đãi bạn, mời thịt chó, rồi nói " trong ngoài, trên dưới đều là chó cả...", chửi đểu nhau chơi!

Mậu, "canh cô, mậu quả". Năm mô mạng mậu thì không được tốt. Không biết năm ni thế giới có bình an?

NGUYN QUANG CHƠN
Mồng 4 tết Mậu Tuất

MÙA XUÂN ĐẾN

nguyễnthịkhánhminh

Tranh Đỗ Hoàng Tường

1.
Ban mai đến
Ngày đưa tôi đến
Lời hôm qua mối đùn
Lời hôm qua xanh cỏ
Mớ ý nghĩ nháo nhào tiếng sấm
Cơn mưa bất ngờ xóa sạch những vết chân
Không biết sao tôi nhớ đến dấu lông ngỗng của nàng Mỵ Châu
Con đường trắng nỗi đau thơ dại
Nước mắt Mỵ Nương rơi lạc trong mưa
Tìm đâu đá xanh
Cây bàng đổ bóng chờ xuống ngõ nhà đen thẫm

Nếu có một tình yêu
Một niềm tin mãnh liệt
Khiến người ta hóa đá
Khiến người ta phải bỏ dấu để tìm ra nhau
Và trái tim chung tình kia chỉ chờ tan ra dưới một hạt lệ
Thì tôi biết tôi phải làm gì. Nơi mỗi lời đi
Như những tờ thơ Emily mỗi sáng mỗi chiều mỗi đêm
Thả rơi ngoài khung cửa
3.2016

2.
Mùa xuân đến
Ngày đưa tôi đến
Con đường đang mọc lên
Lời sum suê lá mới
Mùa xuân về lẫn trong tiếng sấm
Chút nắng vừa ửng trong lá
Vội vã. Tôi ngước mặt
Xin đừng là một gian dối của đất trời
Cho tôi óng ả nắng
Đi trong tiếng cười bạn hữu như đi trong tiếng suối
Nhìn nhau lá reo. Buộc nhau cánh gió no mùa
Nghĩ mình đi trong ngày khai thiên lập địa
Tất cả đang ở điểm khởi đầu
Nơi và lúc. May mắn được bắt đầu bằng niềm tin
Được nhìn thấy mình với một điều dũng cảm ngây thơ
-Tôi chết cho Cái Đẹp*-
Là tôi. Trong những trang Thơ
1.2018
* thơ Emily Dickinson

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
(Trích tập Ngôn Ngữ Xanh, chưa xuất bản)

Saturday, February 17, 2018

HÀNG XÓM

Lưu Na

Lễ Tết

Xếp các thức vừa mua ở chợ vào bếp xong, cô vào thay quần áo.  Điện thoại reo, nhưng là điện thoại của lão Khọm sát vách.  Cô chạy ra sát cửa patio vểnh tai nghe. 
-…
-Này Trấn Văn Vương, chiều nay qua nhà tớ, có món đặc biệt.
-…
-Thì cúng buổi trưa cho xong rồi qua.  Mình rước ông bà về ăn Tết buổi trưa mới có xe đò, chứ chiều tà các cụ ngại!!
-…
-Nhớ khều lão mắt kiếng, mà khều cho sớm vì lão khệnh khạng lắm cơ.
-…
-Yên chí, nếu dở tớ đền, đền món khác dở hơn.
-…
-Dở hơn, mà có dở hơi cũng cứ là được thôi!
-…
-Nhớ nghen, giờ nào cũng được miễn có mặt.

A ha, sắp có cuộc vui.  Vào bếp, cô sắp đặt xôi, bánh mứt, và trái cây sẵn vào đĩa, rồi quay sang lau bàn thờ.  Bát nhang đầy cứng, bụi bặm phủ mặt tủ bám cả vào khuôn hình và chân nến.  Mấy cái chung đồng đã xỉn màu, thôi lần này phải thay chung sứ cho dễ rửa.  Cô đứng trên cái ghế đẩu con con, mân mê những bức hình đen trắng đã ngả màu.  Ông ngoại áo vét tóc rẽ lệch ngôi, bà ngoại khăn vấn nhung đen nụ cười phúc hậu, cậu cũng chỉ là một thanh niên hiền lành.  Ba thì hình ảnh đã màu sắc hiện đại, nền xanh lơ với nụ cười mím chi chừng mực.  Cô chợt thót bụng nhớ ra, mãi đến bây giờ vẫn chưa in hình em trai để lên bàn thờ.  Nhà cô ngày một rộng mà bàn thờ ngày một chật, cô thẫn thờ lau dọn lòng vương vấn những năm tháng êm đềm xưa của tuổi ngây thơ.  Khói nhang muôn đời vẫn một mùi êm ấm nhẹ nhàng, mà lòng người chuyển nhanh như mây.
Bây giờ cô quay sang cắm hoa vào bình.  Ba muốn cúng lay ơn đỏ ngày Tết, nhưng má và cô thích huệ trắng ngà thơm ngát nhà lúc về đêm.  Không sao cả, hai bình lay ơn đỏ sẽ ngự trên bàn thờ, bình huệ với thật nhiều rong xanh mướt đệm thêm những cành cúc trắng li ti sẽ đứng giữa bàn ăn.  Bó cúc vạn thọ dành cho bàn cúng giao thừa, còn bó mai rừng sẽ đứng gần lò sưởi.  Chỉ hoa không thôi đã tốn bạc trăm, nhưng cô mừng mình vẫn được sống như một người Việt dù đã muôn trùng xa cách.
Cô sắp hoa trái bánh mứt lên bàn thờ rồi vào bếp sửa soạn mâm cơm cúng bữa chiều.  Tỉa hoa củ cà rốt để sắt mỏng, cắt xéo từng miếng xu hào, tước xơ các trái đậu tuyết, cô xào các thứ đã cắt với lòng gà và bóng, đã sẵn từng miếng trắng nõn đang ngâm nước nóng.  Cô lấy miến và măng đã ngâm sẵn từ tối qua để nấu bát canh với gà luộc ban sáng.  Bày thêm đĩa thịt quay, mâm cỗ của cô kể như hoàn tất.  Cô xoa tay hài lòng nhưng tưởng như ba trên bàn thờ đang bĩu môi: quí gì cái thứ đi mua về!!!  Không sao, ba, quí ở tấm lòng mà _ cái câu này cô vẫn dùng thường xuyên nói không vấp váp không ngượng miệng!
Đã 4 giờ chiều, cô xếp dọn các thức ăn lên bàn thờ.  Cái bàn thờ bé tí, xếp đủ thứ món lên là cả một kỳ công, cô loay hoay gần nửa tiếng mới xong.  Đốt hai ngọn nến, thắp ba nén nhang, cô thầm khấn nguyện mà thực sự chả có lời khấn nguyện nào ra hồn, bởi mấy mươi năm sống nơi này cô đã quên bài bản khấn khứa!  Cô vái như gà mổ thóc.  Ra bàn ăn ngồi chờ nhang tàn, cô hóng tai nghe động tịnh nhà bên mà sao thấy im ắng, có “nhậu” không đây hay lại “xù” nhau rồi?
Ngồi không thấy ngày như đứng lại, chán quá chả biết làm gì cứ chốc chốc cô ra sát cửa patio mong nghe được một điều gì mà mặt trận hàng xóm vẫn yên tĩnh.  Quái, lão khọm đi đâu chăng?  May, nhang đã tàn, cô vờ cái lệ 2 tuần nhang của ba khi xưa, leo lên ghế đẩu con thổi tắt nến.  Thức ăn cứ để đó, giờ cô phải vào nhà dưỡng lão với má vì đã đến giờ cơm chiều của bà.
Tưởng chỉ có phố Bolsa nghẹt người vì chợ Tết, nhưng xa lộ còn kẹt hơn nữa với những hàng xe nối đuôi chờ vào ra ở hai ngõ Brookhurst và Magnolia.  Cô sốt ruột quay đầu xe đi luồn vào những con lộ nhỏ.  Đường dài hơn nhưng ít kẹt xe, thời gian chậm trễ không bao nhiêu.  Cô vào đến nơi nhân viên đã cho bà ăn được nửa bữa, vừa thấy cô mụ điều dưỡng viên đứng phắt dậy cười toe nhường chỗ.  Bà cụ nắm chặt lấy tay cô: “trời ơi, thấy con Mẹ mừng quá, sao mãi lâu con chẳng vào thăm mẹ…”  Người chung quanh cười ồ.  Cái bịnh nhớ quên lẫn lộn chốn này chỉ là chuyện vui, không ai còn ái ngại.  Cô rủ rỉ, hôm nay 30 Tết, ngày mai sẽ có tiệc đầu năm, má mặc áo dài nha.  Ui giời, cái đó là dĩ nhiên rồi.  Con lấy cho mẹ bộ áo dài nhung đỏ có thêu cúc trắng và đôi giầy màu kem nhá.  Bố mày đâu, hay lại qua nhà con vợ bé.  Lại cười ầm.  Mất ký ức nhiều khi là điều may mắn, má đâu còn biết đau lòng.  Cô đút cơm liền tay sợ dần dà bà chán không chịu ăn.  Rồi lại hát, lại múa men, lại dóc lác, lại bế vào giường thay tã đắp chăn…  Ngày tháng của các cụ không có bốn mùa chẳng nắng chẳng mưa.  Cô ra về, cũng chẳng còn thấy vui buồn.
Nhà bên đèn sáng rực ồn ào.  Các đại ca đã đến!!
Cô rút vào nhà thay quần áo, thu dọn các thức cúng xuống bàn ăn rồi tự làm cho mình một đĩa.  Bên kia lão khọm đang thao thao cái món đặc biệt của lão.
-Này nhớ, tớ đâu có cho bà nhà tớ mua giò heo cắt khúc sẵn.  Phải để nguyên cái mà nướng hơi khét rồi mới cạo sạch cho vàng đều thì da sẽ thơm mà khói không ám vào thịt vào xương.  Ai chặt à, thì còn ai vào đây, bà nhà tớ có con dao phay to lắm kia.  Phải ra ga ra chặt mới khỏi lo dây ra bếp.  Mà, cái công đoạn băm riềng mới là vất vả, vì riềng nó cứng hơn đá.
-Còn ông chỉ là củ nghệ đập cái bép là xong.  Tiếng Bắc, giọng lừng khừng cà khịa, chắc lão mắt kiếng.
-Tép tỏi không?  Giọng Trấn Văn Vương.
-Không, tỏi thơm tho gia vị chứ nghệ thì nhẽo nhoét nhạt phèo.  Chỉ được cái vàng ệch thuốc Bắc.
Cô chồm người dí sát mặt vào cửa patio nhìn xuyên kính cửa sổ nhà bên để đọ tiếng với người.  Lão mắt kiếng là đây.  Ông này bộ dạng nghiêm chỉnh ngay ngắn vuông vắn, từ cái mắt kiếng đến khuôn mặt và đôi vai, ngồi đâu góc Trấn Văn Vương.  Lão khọm lờ những lời cà khịa, nhẩn nha kể lể tiếp. 
-“Đặc sản” là món mẻ, của nhà gầy chứ không mua đâu nhớ.  Giả cầy mà lại dùng me, dùng ya ua, dùng cà ry thì… tặc tặc… lạc quẻ.
-Cơm thiu nuôi thành mẻ, cũng như vang xấu để lâu thành dấm chứ có gì mà khoe um!  Lão mắt kiếng vẫn nhẩn nha châm chọc. 
Bây giờ lão khọm đứng lên giúp phu nhân dọn thức ăn ra bàn nên tạm ngưng đấu khẩu.  Góc trong Trấn Văn Vương đang lim dim mắt cười ruồi cũng chồm lên phụ một tay chuyển thức ăn đặt vào giữa bàn.  Xong.  Tam nhân đồng hành cùng nhau nâng chén, đầu bên này các phu nhân cũng rủ rỉ chén đũa mời nhau.  Lão khọm gắp một miếng giò heo vàng nâu bóng bẩy vào chén.  Lão lại tiếp tục cái món giả cầy gia truyền ngon hơn cầy thiệt.
-Ướp mắm tôm riềng mẻ độ một giờ rồi mới phi hành tỏi cho thơm mà đảo.  Xăn thịt rồi mới thêm nước và chỗ riềng còn lại vào nồi để lửa liu riu.  Lâu lâu phải nếm lại xem đã vừa mắm muối, khi nào thấy sền sệt là giò heo đã mềm, có thể tắt bếp, nhưng chớ ăn ngay.
-Ủa, không phải ăn nóng mới ngon sao?  Trấn Văn Vương phu nhân buột miệng hỏi, Khọm phu nhân vẫn củ mỉ cù mì nín thinh. 
-Thế, thế các cụ mới bảo có của còn phải biết dùng, món ngon còn phải người sành thưởng thức.
-Chứ lúc nào mới ăn, chả lẽ chờ nguội lạnh?
-Không phải vậy.  Múc ra tô, hành lá một dúm bên trên cho thơm tho đẹp mầu, độ năm phút sau giả cầy nguội bớt thì nước mới sánh mà chan vào bún.
-Lão này vẫn quen ăn độn ông ạ.  Mắt kiếng quyết không tha.  Trấn Văn Vương tà tà gặm giò heo không ý kiến. 
Độ mươi phút ngưng chiến, chỉ nghe chén đũa lanh canh, rồi là ly cạn với ly đầy.  Bên này cô cũng tì tì gặm cánh gà chân gà cùng 3 chung rượu cúng.  Cô nhớ cái cảnh bếp núc ngày Tết khi xưa mà ớn.  Có một con gà làm đủ thứ món, rồi là bóc tôm, thái thịt bò thịt heo cho những món khác sao cho đủ bốn đĩa bốn tô.  Xôi phải nén vào chén trước khi úp ra đĩa cho tròn, chả quế phải cắt con thoi bầy như hoa 6 cánh…  Tất cả những công việc đó đều không đến tay cô vì má bảo cô đoảng.  Cô chỉ có một gióp là rửa dọn, trên đời này chả có gì sướng bằng vung tay làm bếp và có kẻ theo hầu, chả có gì khổ bằng phụ bếp hết cả hơi không chút công lao.  Ớn, nhưng giờ đây cô có muốn làm con sen cũng đâu còn dịp, những tiếng cười vang dưới ánh đèn bên lão khọm như khúc phim dĩ vãng nhắc cô những phút giây ấm cúng thuở nào.  Cô thở dài, ăn nốt bát canh măng miến và dọn luôn đĩa xào vào bụng.  Ba chung rượu làm cô nóng bừng, cô mở cửa patio bước ra cho thoáng.  Nhưng mới đứng chưa nóng chỗ, thì tiếng ồn ào đã dồn ra ngay bên nách, lão khọm đã rủ các đại ca ra sân.   Lão ngâm liền một khi: điếu thuốc lào nâng cao sĩ diện, thơm mồm bổ phổi diệt trùng lao, tay bật lửa tanh tách.  Cô lật đật rút.  Cô biết, bây giờ lão sẽ huơ đao chém gió mà vẽ ra những là tràng giang đại hải bài cùng sách, chữ cũng văn.  Cô biết, qua ngày mai lão sẽ ra lò công trình biên soạn cả năm dài một ngày 10 tiếng thành bộ sách 20 cuốn.  Cô biết, lão sẽ…
-Ủa, khi nãy mình quên dĩa lá mơ!!  Tiếng Khọm phu nhân nhỏ nhẹ vọng ra. 
-Trời cao đất dầy.  Lão khọm kêu một tiếng thảm thiết.
-Thì bây giờ vào ăn, mọi thức đều gặp nhau trong bao tử mà, Trấn Văn Vương cười cợt. 
Lão khọm dường tức tối, lão phun khói mịt mờ mặt cứ đần ra.
-Thì năm sau làm cầy thiệt nhậu bù.  Năm cầy cậy nhầu khỏi lạc quẻ!  Mắt kiếng chúm chím, lão khọm gườm gườm lẩm bẩm,
-Năm sau, năm sau, …
-Ối!!! Về cúng giao thừa. A ha, Mắt Kiếng phu nhân.  Trấn Văn Vương phu nhân cười khanh khách. 
Ba chàng ngự lâm pháo thủ tan hàng không pháo lệnh, hai bên sân bỗng bặt tiếng.  Cô vù xuống bếp sắp hoa quả bát nhang, chỉ còn một giờ là qua ngày mai.
Mang ly nước lạnh ra bàn cúng cô bật cười.  Ngày mai đã là năm sau, KHỌ..ỌM.
LƯU NA






KIẾP DÃ TRÀNG

Vũ Hoàng Thư

Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn

         Khi nghe Hoàng Xuân Sơn hát Kiếp dã tràng

ngày đi xuống
ánh u trầm
con sóng vỗ
lậm triều âm lên chiều
lõm biển khơi
dội phù điêu
chân cao nhón cát
kiếp phiêu sinh hờ
ngửa nghiêng chiều
dã tràng chờ
con nước qua
những cợt cờ hồng môi
lâu đài dư
bóng nổi trôi
hoàng sa nhân ngãi
chút phôi pha vàng

VŨ HOÀNG THƯ

CỐNG ĐẬP CHẶN MẶN GÂY RỐI LOẠN HỆ SINH THÁI VÀ NHỮNG CÁI GIÁ PHẢI TRẢ

Ngô Thế Vinh

Water, water, every where,
Nor any drop to drink.    
Samuel Taylor Coleridge [1772-1834]     

Thế kỷ 21 của tỵ nạn môi sinh, đã có 2 triệu người
phải rời bỏ quê hương ĐBSCL ra đi tìm kế sinh nhai


Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

Hình 1: Hình ảnh một dòng sông đang chết dần; cũng để hiểu tại sao đã có
2 triệu người phải rời bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai;
từ phải: TS Lê Anh Tuấn, Th.S Nguyễn Hữu Thiện. [photo by Ngô Thế Vinh]

XỨ SỞ CÂY THỐT NỐT VÀ NGƯỜI KHMER HIỀN HOÀ
Tới An Giang, tới hai quận Tịnh Biên và Tri Tôn không thể không thấy hàng cây thốt nốt nổi bật trên những cánh đồng lúa xanh. Cây thốt nốt thuộc họ cau, tên khoa học Borassus flabellifer, có nhiều ở các nước Đông Nam Á. Cây thốt nốt sống cả trăm năm dài hơn tuổi thọ một đời người. Thân cây thẳng và cao tới 30 mét. Cây đực không trái, cây cái cho tới 60 trái mỗi cây. Trái thốt nốt có vỏ xanh đen, nhỏ hơn trái dừa bên trong có những múi trắng mềm, ngọt và mát. Hoa cây thốt nốt cho nước ngọt có vị thơm, có thể nấu thành đường, ngon hơn đường mía. Nếu Quảng Ngãi, quê Hương Nghiêu Đề bạn tôi, từng nổi tiếng về đường phổi, đường phèn thì An Giang, vùng Tịnh Biên Tri Tôn nổi tiếng với đường thốt nốt. Chè đậu xanh nấu với đường thốt nốt ngọt dịu và rất thơm ngon. Hình như tất cả mọi thành phần cây thốt nốt đều có công dụng: thân làm cột nhà, lá dùng lợp mái. Trong nền văn hóa cổ Khmer, các Chùa chiền còn lưu giữ được những văn bản viết trên lá cây thốt nốt. Cây thốt nốt cũng được xem như biểu tượng của xứ Chùa Tháp. [Hình 2]

Hình 2: Hàng cây thốt nốt đứng soi bóng bên hồ nơi khu đền đài Angkor;
cây thốt nốt được xem như biểu tượng của xứ Chùa Tháp.
[tư liệu Ngô Thế Vinh]

Khắp xứ Chùa Tháp xuống tới Đồng Bằng Sông Cửu Long, đi đâu cũng chỉ gặp những người dân Khmer hiền hòa, và rồi không thể nào hiểu được những gì đã xảy ra giữa họ và những người Việt trong quá khứ. Chỉ có thể giải thích họ là một đám đông nạn nhân của những khích động thù hận mà động cơ là những mưu đồ chánh trị đen tối.

Trong y khoa, khi khảo sát não trạng vô thức của đám đông, qua nghiên cứu hành vi/ behavior của loài cá, khoa học gia Đức đã làm một thử nghiệm: thả một con cá bị huỷ não bộ vào một hồ cá, không có gì ngạc nhiên là con cá ấy mất định hướng bơi tán loạn, nhưng điều kỳ lạ là đàn cá lành mạnh thì lại ngoan ngoãn bơi theo con cá mất não ấy. Phải chăng "thử nghiệm hành vi" của nhà khoa học Đức, đã phần nào giải thích hiện tượng cả một dân tộc Đức văn minh đã có một thời kỳ nhất loạt tuân theo một lãnh tụ như Hitler xô đẩy cả thế giới vào lò lửa của cuộc Thế chiến thứ Hai.



Hình 3: trên trái, hàng cây thốt nốt huyện Tri Tôn tỉnh An Giang;
phải, bà Ngoại ngồi chặt đống trái cây thốt nốt; dưới phải, con gái Ngoại
thì đang gỡ những múi thốt nốt trắng mềm để mời khách, đây là quán Thốt Nốt Võng
cho khách đường xa ghé uống ly nước thốt nốt mát và tạm ngả lưng;
từ phải, TS Lê Anh Tuấn, TS Dương Văn Ni, TS Lê Phát Quới, Th.S Nguyễn Hữu Thiện,
KS Phạm Phan Long; trên mặt bàn là hộp đường thỏi thốt nốt.
[photo by Ngô Thế Vinh & Phạm Phan Long]

Hình 4: trái, được ăn những chiếc bắp nóng trên đường đi, phải,
vựa dứa thơm ngon nổi tiếng quận Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng,
từ trái: TS Dương Văn Ni, Ngô Thế Vinh, TS Lê Phát Quới.
[photo by Ngô Thế Vinh, Nguyễn Văn Hưng]


Hình 5: tren, những giề lục bình phủ kín kinh rạch do nước tù đọng;
duoi, cảnh khói đồng do nông dân đốt rạ và dùng tro than như phân bón thiên nhiên.

Hình 6: giữa, cùng bác nông dân với bài học đập lúa đầu tiên trên ĐBSCL,
kết quả người viết bị đánh rớt / disqualified ngay, vì đập không hết
hạt và lúa thì vương vãi ra tứ tung, học làm nông dân khổ và khó lắm.
[photo by Nguyễn Văn Hưng]

Hình 7: trái, từ ruộng hành xã Vĩnh Hải huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
những thố hành tím được chất thành ngọn lên xe tải để phân phối tới các chợ;
phải: TS Lê Anh Tuấn đứng bên túi trữ nước ngọt lấy từ giếng bơm, anh Lê Anh Tuấn
cũng cho biết: 100% nước tưới ruộng hành được lấy từ các giếng bơm,
[photo by Ngô Thế Vinh]

CÓ MỘT NỀN VĂN HOÁ NƯỚC LỢ 
Trên đường dọc theo Sông Hậu, xe dừng lại Hộ Phòng là một phường của thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Xuống xe đi bộ lên chiếc cầu xi măng có tên Hộ Phòng 2, bắc qua con kênh lớn Gành Hào [được xây từ năm 2011 do quỹ ODA/ Official Development Assistance của Nhật].

Bấy lâu, các chuyên gia Bộ Nông nghiệp từ ngoài Bắc vào vẫn có cái nhìn rất giản đơn về hệ sinh thái sông nước Cửu Long: họ chỉ thấy có triều cường và triều kiệt. Rồi đề xuất kế hoạch làm những cống đập chặn triều cường để ngăn mặn giữ ngọt. Từ suy nghĩ giản đơn ấy, họ đã và đang gây ra bao nhiêu hệ luỵ cho hệ sinh thái ĐBSCL như hiện nay.

Đoàn đứng trên cầu phía hướng ra Biển Đông, nơi có cống đập ngăn mặn. Ngoài mặn trong ngọt. Anh Dương Văn Ni sinh ra và lớn lên từ vùng sông nước Miền Tây, khi nói về nhịp đập của hệ sinh thái ĐBSCL, anh Ni thông thuộc như với đường chỉ tay của chính mình; với một giọng thuần Nam Bộ trầm tĩnh bắt đầu một bài giảng:

"ĐBSCL chỉ nói riêng phía Biển Đông, không đơn giản chỉ có triều cường và triều kiệt. Hỏi người nông dân thì họ biết rất rõ. Thuỷ triều từ Biển Đông là bán nhật triều, sáng và chiều hai lần trong ngày; hai lần nước lớn tiếp theo hai lần nước ròng, mực nước lên xuống bốn lần trong một ngày. Trong tháng, người nông dân biết chừng nào thì "nước rong" vào ngày rằm, khi nào "nước kém" vào cuối tháng âm lịch. Trong năm, thì họ có mùa "nước nổi" và mùa "nước hạn".

Từ mấy trăm năm, trải qua bao thế hệ, người nông dân Miền Tây đã quen chung sống với nhịp đập thiên nhiên ấy của những dòng sông: trong ngày, trong tháng, trong năm và đã hình thành một nền "văn minh sông nước." Họ đã quen chung sống với cả ba tình huống: nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Lãnh đạo bộ Nông nghiệp đa số mang theo họ một nền văn hoá từ châu thổ sông Hồng, biết rất ít về hệ sinh thái ĐBSL vốn rất đặc thù. Với đầu óc duy lý giản đơn, với những con số thống kê, nhưng họ có biết đâu rằng chuỗi những con số đó chính là những tín hiệu đã nằm ngay trong nền "văn hoá sông nước" mà người nông dân từ đời này sang đời nọ vẫn đọc được. Người nông dân bấy lâu đã biết nương theo sức mạnh của thiên nhiên để chung sống. Văn hoá sông nước thực ra gồm bốn phần tương tác Sông-Biển-Châu thổ-Con người cùng hoà nhập nhau theo từng nhịp đập.

Một ví dụ, chỉ riêng chuyện di chuyển ghe thuyền trên sông, người nông dân biết tính trước khi nào thì cho ghe xuôi theo con "nước ròng", khi nào thì ghe ngược theo con "nước lớn", và cũng để thấy cấu trúc của lòng ghe bấy lâu là làm sao dùng sức đẩy tối ưu của dòng chảy.

Và rồi trong tháng họ biết lúc nào thì cho nước vào ruộng, khi nào thì xả, khi nào thì thả con giống cá tôm... mà không cần tốn nhiều công sức, để phải dùng gầu tát nước hay phải dùng tới máy bơm.

Chính nhịp đập của "mẹ thiên nhiên / natural pulse" là bạn đồng hành thân thiết bấy lâu của họ. Và nay thì bị phá vỡ và cắt đứt một cách thô bạo.

Cũng từ bao trăm năm, nông dân ĐBSCL biết rất rõ là sông rạch nối liền với biển, có thuỷ triều lên nên mới có được con nước lớn, và thuỷ triều xuống mới có con nước ròng, và cũng nhờ đó mà sông rạch được làm sạch, có cá tôm và đã hình thành cả một nền văn hóa sông nước.

Chúng tôi cùng hiểu rằng: với cống đập kia, con sông bị cắt làm hai: chỉ còn một bên ngọt, một bên mặn, mất hẳn một vùng nước lợ / blackish. Bên trong không còn nước lớn, nước ròng mà sông biến thành hồ tù đọng, tích luỹ đủ mọi loại ô nhiễm, và không còn cá tôm. Bên ngoài, hệ sinh thái ven biển cũng bị nghèo đi và nông ngư dân cho biết, từ ngày có cống đập không còn đâu nguồn tôm cá phong phú của cả một vùng nước lợ. Đó là chưa nói tới tình trạng gián đoạn giao thông trên sông.

Rồi anh Ni đưa ra một ví dụ rất tượng hình: "Cũng giống như khai quật được một kho tàng cổ sử, người không chuyên môn thì chỉ thấy được đó là những mảnh đá mảnh sành, cùng lắm là thấy thêm được mấy nét vẽ ngoằn ngoèo vô nghĩa trên đó, nhưng với con mắt của nhà khảo cổ thì khác, đó là dấu vết và tín hiệu của cả một nền văn minh."

Và tôi cũng hiểu rằng, bấy lâu với các chuyên gia nông nghiệp từ ngoài Bắc vào, chưa từng chung sống và chết với nền văn minh sông nước ấy, họ đã có những chánh sách can thiệp thô bạo chống lại mẹ thiên nhiên để phải trả giá rất đắt và nạn nhân không ai khác hơn là chính ngót 20 triệu cư dân phải ngày đêm sống với những bất cập ấy như hiện nay.


Hình 8: trái, Cầu Hộ Phòng II là cây cầu mới trên khúc đường vòng/ detour,
(do quỹ ODA / Official Development Assistance của Nhật xây 2011, còn Hộ Phòng I
là cây cầu cũ thì nằm trên đường thẳng của Quốc lộ). Đứng trên hướng ra Biển Đông
TS Dương Văn Ni đang giảng về "có một nền văn hoá nước lợ"; từ trái: TS Dương văn Ni,
KS Phạm Phan Long, TS Lê Anh Tuấn, TS Lê Phát Quới, giữa: cống đập chặn mặn không xa biển trên con kênh Gành Hào, với bên ngọt bên mặn và một mai không còn đâu nét văn hoá của một vùng nước lợ / lackish; phải: cống đập chặn mặn chặt đứt hệ sinh thái biển và sông và cũng làm nghẽn mạch vận chuyển đường sông, kể cả với những chiếc ghe nhỏ đuôi tôm. [photo by Ngô Thế Vinh]

CÔNG TRÌNH CỐNG ĐẬP BA LAI: MỘT HỐI TIẾC
Hai Mươi Năm qua 1997-2017, lãnh đạo Bộ Nông Nghiệp, qua nhiệm kỳ của 3 bộ trưởng:

1/ Lê Huy Ngọ, nhiệm kỳ 7 năm, 1997-2004
2/ Cao Đức Phát, nhiệm kỳ 12 năm, 2004-2016
3/ Nguyễn Xuân Cường, nhiệm kỳ 2016 đương nhiệm

Họ đến từ miền Bắc đã và đang có những quyết định phải nói là sinh tử với hệ sinh thái ĐBSCL, một vùng thổ nhưỡng phải nói là rất xa lạ với họ.  

Chỉ thấy đơn giản nơi ĐBSCL có triều cường triều kiệt, coi nước mặn là kẻ thù nên đã có một chiến lược ồ ạt xây những đại công trình mà người ta gọi là Cống Đập Ngăn Mặn, mà Cống đập Ba Lai là một điển hình.

Được khởi công ngày 27.02.2000, dự án công trình cống đập Ba Lai chắn ngang cửa sông Ba Lai từ xã Thạnh Trị kéo sang xã Tân Xuân (Ba Tri). Kinh phí ban đầu lên tới hơn 66 tỷ đồng VN. Con đập dài 544 m gồm 10 cửa với khẩu độ 84 m được vận hành bằng một hệ thống van tự động hai chiều. Quy hoạch trên lý thuyết, thì cống đập Ba Lai có chức năng: ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ cho 115,000 hecta đất trong đó có 88,500 hecta là đất canh tác, cấp nước ngọt sinh hoạt cho hơn 600 ngàn dân cư Thành phố Bến Tre và các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành; cùng kết hợp với phát triển giao thông thuỷ bộ và cải tạo môi trường sinh thái vùng dự án. [sic]

Hai năm sau, từ ngày 30.04.2002 cống đập Ba Lai được đưa vào hoạt động, được vinh danh là một công trình thuỷ lợi lớn nhất của ĐBSCL. Và từ đây, cửa sông Ba Lai, một trong 9 cửa của Cửu Long chính thức bị ngăn lại. 

Hình 9: từ ngày có cống đập Ba Lai, cửa sông Ba Lai nhánh thứ 8
bị chính con người đóng lại. Cửa Ba Thắc đã bị bồi lấp từ cả trăm năm nay,
và hiện giờ Cửu Long Giang nay chỉ còn 7 nhánh: Thất Long.
[photo by Lê Quỳnh, báo Người Đô Thị]

Tính cho tới nay, cống đập Ba Lai đã vận hành được 16 năm [2002-2018], hiệu quả công trình Cống đập Ba Lai ấy ra sao? Chỉ có những lời ta thán.
Hàng trăm cống ngăn mặn không đạt mục đích vì còn chằng chịt những cửa sông kinh rạch không có cống ngăn mặn đã tập hậu nước mặn vào bên sau  hệ thống cống đập đã xây.

Hình 10: Bến Tre nước ngọt khan hiếm, phải dùng cả xe máy kéo để chở nước,
có nơi dân phải mua 100,000 đồng / mét khối nước [photo by Bình Đại, Zing VN 20.02.2016]. Bệnh viện lớn nhất tỉnh Bến Tre thiếu nước ngọt. mỗi ngày được xe tải cung cấp
10 mét khối nước ngọt, chỉ đủ cho các khoa phòng chia nhau từng lít nước.
[photo by Mậu Trường, TTO 14.03.2016]

Sông Ba Lai ngừng chảy. Thay vì biến sông Ba Lai thành một hồ nước ngọt thì cư dân Bến Tre phải sống với nước sông Ba Lai mặn hơn trước kia nhất là vào mùa khô. Hậu quả là tỉnh Bến Tre thiếu nước ngọt, đưa tới tình cảnh bệnh viện lớn nhất Bến Tre mỗi ngày được xe tải cung cấp 10 mét khối nước ngọt chỉ đủ cho các khoa phòng chia nhau từng lít nước, còn người dân thì sống trong tình trạng thiếu nước ngọt kinh niên, phải mua nước ngọt có khi phải trả tới 100,000 đồng VN/ mét khối. [Tuổi Trẻ online 22.02.2016]

Giải thích của nhà nước về "hiệu quả ngược" của công trình cống đập Ba Lai như hiện nay là: do thiếu vốn để làm tiếp nhiều công trình khác tiếp theo, trong đó có hai hạng mục quan trọng, đó là phải xây thêm cống đập và cả âu thuyền* trên hai con sông Giao Hoà và Chẹt Sậy vẫn tiếp tục đem nước mặn từ sông Cửa Đại đổ vào "hồ nước ngọt Ba Lai".


*Âu thuyền / canal lock: là một từ tương đối mới, chỉ một công trình chắn ngang sông hoặc kênh, có cửa hai đầu để tăng hoặc giảm mực nước, giúp cho thuyền hay tàu đi qua nơi có mực nước chênh lệch nhiều.   

Theo phóng viên TTXVN Phan Văn Trí, trích dẫn: "Ông Cao Văn Trọng, Chủ tịch UBND tỉnh cho biết để thi công hai hạng mục đập và âu thuyền và một số hạng mục khác cần nguồn vốn khoảng 200 triệu USD. Vì vậy, tỉnh đã kiến nghị Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tranh thủ nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản. Ông Trọng cũng cho biết tổ chức JICA (Nhật Bản) đã đến Bến Tre khảo sát địa điểm xây dựng đập và âu thuyền. Tuy nhiên, việc khởi công có thể còn phải chờ đến… năm 2020. Dù gì thì hình ảnh những chiếc xe máy cày hay xe bò kéo chở nước đem đổi cho người dân, với giá từ 70,000 đồng đến 100.000 đồng/m3, chắc chắn vẫn còn diễn ra trong những mùa khô cho tới 2020. Điều đáng nói là nước đó được lấy từ những chiếc giếng đào trên giồng cát, chưa qua xử lý…" [2]

Cửu Long Chín Cửa Hai Dòng nay chỉ còn có 7 cửa. Nam Thất Nữ Cửu, như hình ảnh một ĐBSCL bị triệt sản. Bởi thế dân gian tỉnh Bến Tre mới có câu:

Ba Lai là cái cửa mình
Trung ương đem lấp dân tình ngẩn ngơ

Một câu hỏi được đặt ra: với những tác hại do cống đập Ba Lai gây ra, ai - Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, hay Bộ Tài Nguyên Môi trường hay chánh phủ trung ương sẽ nhận trách nhiệm với phong cách "đem con bỏ chợ" như hiện nay, phải chờ cho tới 2020 cho đến khi ODA của Nhật chịu rót vốn vào?

Từ bài học thất bại của đại công trình cống đập Ba Lai, nhiều nhà khoa học và giới hoạt động môi sinh như một "think tank" đã không ngừng lên tiếng cảnh giác rằng: nếu không có một đánh giá môi sinh chiến lược cho toàn ĐBSCL mà chỉ đơn giản nhắm giải quyết tình hình hạn mặn, rồi lập ngay quy hoạch xây dựng xây một loạt hệ thống cống đập chỉ để ngăn mặn nơi các cửa sông lớn là phá vỡ cả một hệ sinh thái và hậu quả sẽ khôn lường.

Khảo sát của nhóm IUCN / International Union for Conservation of Nature Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên tại VN đưa ra nhận định là do hệ thống cống đập khiến hai bên bờ sông Ba Lai đang khép lại dần.

TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hận, ĐH Cần Thơ đã dùng một cụm từ rất gợi hình để chỉ hệ thống cống đập Ba Lai khi ông gọi đó là "dòng sông bị cưỡng bức." Sông nay biến thành hồ chứa, ô nhiễm thì tích luỹ nước đổi màu do rong tảo sinh sôi phía trong cống đập. 

Th.S Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia về nước ngập/ Wetlands cho rằng hàng năm vào mùa mưa do lượng nước mùa lũ đổ về, toàn thể phù sa trong lượng nước đó sẽ lắng xuống đáy sông Ba Lai - nay trở thành hồ và với thời gian sông Ba Lai sẽ chết hẳn do bị bồi lấp. [1]  

Khi đưa ra cái nhìn toàn cảnh hiện trạng và tương lai ĐBSCL, các anh trong đoàn đưa ra một cái nhìn tổng quan không mấy lạc quan:  

Đất bị mất do sạt lở bờ sông bờ biển, trong những năm gần đây, đất bị lún với tốc độ 10 lần nhanh hơn so với nước biển dâng, và đất đai còn lại thì bị vắt kiệt. Sông ngòi ô nhiễm đủ thứ, từ nước thải sinh hoạt, công nghiệp, thủy sản đổ thẳng vào sông, cũng như lượng lớn phân bón, thuốc trừ sâu từ nông nghiệp do 3 vụ thâm canh.

Theo một nghiên cứu về lịch sử đất lún do nhà khoa học Minderhoud và một nhóm chuyên gia Hà Lan, Hoa Kỳ và Việt Nam thực hiện công bố năm 2017 trên Environmental Research Letters, độ lún và vận tốc lún tại châu thổ ĐBSCL đã xuống sâu 25 cm và thậm chí đến 50 cm theo biểu đồ KS Phạm Phan Long trích dẫn chú thích và cung cấp sau đây. [Hình 10]

Trong những thập niên tới, biển dâng được dự đoán với vận tốc 0.5 cm/năm, như vậy mặt đất thấp sẽ thấp dần dưới mặt biển có thể đến 1 m trong vòng 100 năm nữa. Trước tác động kép do sinh hoạt con người và do biến đổi khí hậu, ĐBSCL sẽ rơi vào tình huống xấu nhất toàn cầu. Một đối sách có tên “ASR, aquifer storage and reuse” đang được Viet Ecology Foundation đề bạt thảo luận là lọc và trữ nước ở những túi rỗng ngầm, vừa ngăn mặn tập kích vào thềm lục địa, vừa có nước ngọt sinh hoạt canh tác và tránh cho mặt đất tiếp tục lún xuống.

Hình 11: Biểu đồ độ lún và vận tốc đất lún trong 25 năm tại Đồng Bằng

Sông Cửu Long. [nguồn: Environ.Res.Lett. 12 (2017) với ghi chú của KS Phạm Phan Long, Viet Ecology Foundation]. Hiện nay, rất nhiều giếng tầng nông và bơm bằng tay đều bị nhiễm mặn nhiễm phèn, nước giếng không còn dùng được, và nay người nông dân phải khoan sâu 400-500m để tìm được nguồn nước ngọt, mặt bằng ĐBSCL đang bị sụt lún nhanh chóng vì các tầng nước ngầm đang bị tận cùng khai thác.
 
Đã thế nhiều sông ngòi, bị kế hoạch cống đập đã biến sông rạch thành hồ tù đọng, tích lũy ô nhiễm. Nước sông ngòi không còn dùng được phải chuyển sang xài toàn nước ngầm nên tầng nước ngầm cũng cạn kiệt nhanh và đất lún.

Còn có hiện tượng "tỵ nạn môi sinh/ ecological refugees" của người dân ĐBSCL rời bỏ quê hương đi tới vùng đất khác, tha phương cầu thực. Con số gần 2 triệu người đã đi khỏi vùng đất này trong hai thập niên qua thì phải có những lý do như môi trường sống bị suy thoái, nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt.

Thủy điện thượng nguồn từ Vân Nam Trung Quốc rồi Lào làm mất ngót 90% nguồn phù sa, không có gì thay thế; biến đổi khí hậu với nước biển dâng có thể phần nào thích ứng nhưng còn vấn đề phát triển tự huỷ / destructive development do tự mình gây ra đang là một nan đề lớn do chính sách "duy lý và thiếu tầm nhìn chiến lược" đến từ trung ương đã gây nhiều tổn thương cho ĐBSCL, gây trở ngại cho phát triển.

TỪ CỐNG ĐẬP BA LAI TỚI SÔNG CÁI LỚN - SÔNG CÁI BÉ
Bài học thất bại của công trình thuỷ lợi Ba Lai vẫn còn đó, vậy mà, nguyên bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Cao Đức Phát, một người sinh quán Nam Định từ châu thổ Sông Hồng, vẫn bất chấp mọi lời cảnh báo của giới chuyên gia, vẫn kiêu căng tuyên bố sẽ tập trung đầu tư xây dựng các công trình cống đập lớn đến năm 2020, từ hoàn thiện hệ thống cống đập Ba Lai, và xây dựng thêm các hệ thống cống đập Sông Cái Lớn, Sông Cái Bé [SCL-SCB] tỉnh Kiên Giang, được quảng bá như một công trình của Thế kỷ, với ngân khoản lên tới 3,300 tỷ đồng (150 triệu USD) với hậu quả hay thảm hoạ trên toàn hệ sinh thái ĐBSCL không biết sẽ trầm trọng tới đâu.

Rõ ràng có những khoảng chống của Dự án Cống đập SCL-SCB và các câu hỏỉ:
1/ Chỉ nghe nói, bản nghiên cứu đánh giá tác động môi trường [ĐTM/ EIA] về Dự án Cống đập SCL-SCB là do Viện Kỹ Thuật Biển thuộc Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam thực hiện, nhưng không thấy công bố ở đâu hết, với sự không minh bạch / transparency như vậy thì làm sao có được sự góp ý của giới chuyên gia. 
2/ Dự án SCL-SCB bao giờ khởi công và tình hình tới đâu chỉ diễn ra sau những cánh cửa Bộ NN & CTNT ngoài ra  không có ai được biết tới để có thể theo dõi.
3/ Và cũng là điều vô cùng ngạc nhiên là với gần 2 triệu người di cư ra khỏi ĐBSCL trong hai chục năm qua, nhưng vẫn chưa hề có cuộc điều tra cơ bản nghiên cứu về những nguyên nhân ra đi của họ. 

Hình 12: Sơ đồ dự án hệ thống cống đập chắn mặn trên Sông Cái Lớn-Sông Cái Bé,
sẽ tác động trên 1/4 diện tích toàn ĐBSCL và ảnh hưởng tới đời sống
hơn một triệu cư dân trong vùng. (6) [nguồn: Ánh Sáng và Cuộc Sống]

Rõ ràng Dự án cống đập Sông SCL-SCB đã thiếu hẳn một đánh giá chiến lược tác động môi trường [ĐTM/ EIA/ Environmental Impact Assessment] toàn diện và khách quan, bị ảnh hưởng bởi quan điểm của chủ đầu tư/ nhóm lợi ích chỉ để nhằm biện minh cho sự cấp thiết của dự án, trong khi mà ai cũng biết là dự án sẽ tác động tới toàn hệ sinh thái của cả một vùng rộng lớn chiếm 1/4 tổng diện tích của ĐBSCL [hơn 1 triệu hecta], ảnh hưởng trực tiếp trên đời sống sản xuất sinh kế của hàng triệu cư dân trong vùng quy hoạch, trong khi còn bao nhiêu vấn đề kỹ thuật chưa có giải pháp rốt ráo. Và khi đã gây huỷ hoại trên hệ sinh thái thường rất khó đảo nghịch.

TS Lê Anh Tuấn, Phó Việt trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu ĐH Cần Thơ [Viện DRAGON] nhận định: cắt đứt trao đổi nước giữa sông và biển chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới canh tác sản xuất của nông dân quen sống theo nhịp thuỷ triều, giảm nguồn thuỷ sản bên trên và bên ngoài cống đập, và do nước tù đọng sẽ tích luỹ mọi ô nhiễm.

Một chuyên gia Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên ĐH Cần Thơ, nhận định về sự khác biệt của hai chế độ thuỷ triều phía Biển Đông và Biển Tây. Phía Biển Đông là bán nhật triều: nước lên xuống ngày 4 lần, trong khi Biển Tây là chế độ nhật triều, nước lên xuống ngày hai lần. Riêng vùng Tây Nam Sông Hậu chế độ thuỷ văn phúc tạp hơn nhiều, chịu ảnh hưởng của cả hai chế độ nhật triều và bán nhật triều khác nhau. Trong khi các cống đập hiện nay chỉ vận hành theo một mô hình thô thiển: đóng cổng đập khi triều cường, mở cổng đập khi triều kiệt. Hệ thống cống đập trên SCL-SCB sẽ gây rối loạn cho chế độ thuỷ văn vùng này, làm "mất lực hút-đẩy" của chế độ thuỷ văn thiên nhiên [sic] nước sẽ tù đọng tích luỹ ô nhiễm từ các chất thải nông ngư nghiệp, kỹ nghệ và cả nước thải không được xử lý đổ xuống từ các khu gia cư.
  
NHÂN DÂN TỈNH LONG AN ĐÃ MỘT LẦN NÓI KHÔNG
TS Lê Phát Quới, người Long An, giảng dạy tại Khoa Tài nguyên & Môi Trường ĐH Quốc gia TP HCM, anh có giọng nói lớn, có nét trực tính của người dân Nam Bộ, anh nói: "Sau công trình cống đập Ba Lai, trung ương có kế hoạch xây thêm hệ thống cống đập trên cửa con sông Vàm Cỏ là kết nối của hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây thuộc tỉnh Long An. Anh Lê Phát Quới thuật lại: "Trong một cuộc họp với trung ương và cấp lãnh đạo tỉnh cùng với các nhà khoa học - trong đó có thằng Quới, anh tự gọi mình là thằng, cuộc họp có cả ông Sáu Dân tức Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó. Khi tỉnh Long An được hỏi ý kiến, thì lãnh đạo tỉnh đã có câu trả lời: sau khi phái đoàn tỉnh đi thăm cống đập Ba Lai trở về, sau khi tham khảo ý kiến nhân dân, thì toàn thể nhân dân Long An có câu trả lời là không. Lưu ý các anh, là câu trả lời không phải từ tỉnh uỷ hay uỷ ban nhân dân mà là toàn dân tỉnh Long An nói không. Nếu nói là tỉnh uỷ hay uỷ ban nhân dân, thì trung ương có thể dùng quyền lực đảng hay quyền lực trung ương để áp đặt, nhưng là tiếng nói của toàn thể nhân dân Long An thì khác. Và rồi sau đó, kế hoạch bị gác lại."
Anh Lê Phát Quới đi tới kết luận: "nếu cứ để thực hiện hệ thống cống đập trên con Sông Vàm Cỏ thì không biết tai họa cho toàn hệ sinh thái tỉnh Long An sẽ khủng khiếp như thế nào." Và anh Quới không dấu được nét hãnh diện về tiếng nói ngăn chặn kịp thời của nhân dân tỉnh hạt mình.

Hình 13: TS Lê Phát Quới, Khoa Tài nguyên Môi Trường ĐH Quốc gia TP HCM.
[photo by Ngô Thế Vinh]

UỶ HỘI MEKONG VN, VẪN MÃI MỘT ĐỊA CHỈ NGHỊCH LÝ
Từ sau 1975, đất nước này nói chung trong đó có ĐBSCL đang được điều hành với những "đầu óc nghịch lý".
Đứng từ trên một chiếc phà đi ngang nhánh sông Trần Đề để qua Cù lao Dung, trong ráng chiều chập choạng của hoàng hôn, tôi qua sang hỏi một anh trong đoàn: "Hỏi thật lòng anh, là hiện nay người dân ĐBSCL có cảm thấy hạnh phúc hơn không so với trước 1975."  Chỉ có một câu trả lời khẳng định, nếu có thì là các gia đình không còn bị ly tán và đất nước không còn chiến tranh.
Tôi đã không hỏi anh thêm nữa vì thực sự không có được câu trả lời đơn giản. Riêng tôi thì vẫn cứ bị ám ảnh với con số đã có 2 triệu người phải từ bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai. Cách biện minh là với 2 triệu người bỏ đi nhưng cũng có 700 ngàn người mới tới, không phải là một câu trả lời rốt ráo.

Hình 14: Vẫn một địa chỉ nghịch lý: Uỷ Hội Quốc gia Sông Mekong Việt Nam,
vẫn từ bao năm, vẫn toạ ngự tại địa chỉ 23 phố Hàng Tre Hà Nội, nơi châu thổ Sông Hồng
cách xa ĐBSCL hơn 1,600 km, thay vì là Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu, ĐH Cần Thơ.
[tư liệu Ngô Thế Vinh, photo by LN Hà]

Từ hơn hai thập niên, người viết đã không ngừng lên tiếng về mối nguy cơ của những con đập khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc rồi tới chuỗi 9 đập thuỷ điện dòng chính của Lào, rồi tới 2 dự án đập của Cambodia: ngoài những hậu quả rối loạn về dòng chảy, mất nước nơi các hồ chứa và nhất là mất nguồn cát nguồn phù sa, dẫn tới nguy cơ của một tiến trình đảo ngược khiến một ĐBSCL đang dần dần tan rã.

Những mối nguy cơ từ thượng nguồn, gần như không làm gì được. Nhưng quá trình phát triển tự huỷ / destructive development ngay nơi ĐBSCL trong mấy thập niên qua cũng phải kể là những hệ luỵ tích luỹ tác hại nghiêm trọng trên sự sống còn của cả một vùng châu thổ.  Có thể kể, từ sau 1975:

_ Xây đê đắp đập chắn lũ mở rộng khu gia cư để làm lúa ba vụ làm mất 2 túi nước thiên nhiên Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười.
_ Xây hệ thống cống đập chắn mặn phá vỡ nhịp đập thiên nhiên của hệ sinh thái ĐBSCL biến sông rạch thành một hệ thống hồ ao tù đọng.
_ Xây dựng 14 nhà máy nhiệt điện than nơi ĐBSCL gây ô nhiễm đất, nước, không khí trên toàn vùng.

Phát triển với những bước không bền vững / unsustainable development như trên đã làm tổn thương trên toàn hệ sinh thái ĐBSCL và các nguồn tài nguyên thì cứ nghèo dần đi.

Để thay kết luận, người viết gửi tới ông Bộ trưởng NN & PTNT Nguyễn Xuân Cường, người thay thế Bộ trưởng Cao Đức Phát sau 12 năm tại nhiệm, câu trích dẫn và cũng là bài học đầu tiên của một sinh viên vào học Y khoa: Primum Non Nocere / First do no harm / trước hết là không gây hại. Mọi kế hoạch vội vã, thiếu thời gian cho một lượng giá chiến lược ảnh hưởng môi trường [ĐTM] khách quan, với tổn phí hàng ngàn tỉ đồng mà còn gây hại cho toàn hệ sinh thái vốn đã quá mong manh/ fragile của một vùng châu thổ mà trước đây đã từng được đánh giá là phong phú và giàu có nhất trên hành tinh này.

Qua kinh nghiệm 16 năm vận hành của hệ thống cống đập Ba Lai, để thấy rằng dù tốn hàng bao nhiêu tỷ đồng, cứ với quyết tâm làm đê ngăn mặn nhưng nước sông rạch bên trong vẫn không thể dùng được cho sinh hoạt, những công trình như thế còn khiến nước bên trong bị ô nhiễm nghiêm trọng vì dòng chảy không lưu thông, tù đọng. Xây dựng cống đập Ba Lai đã rất tốn kém, nhưng khi phát hiện sai lầm - nếu có thiện chí sửa sai, thì việc phá bỏ, làm sạch môi trường và chuyển đổi sinh hoạt của cư dân cũng sẽ rất tốn kém và không thể mau chóng và không phải là dễ dàng.

Tiếp tục biện pháp xây dựng công trình cống đập ngăn mặn rất tốn kém sẽ cắt đứt thô bạo mối liên hệ cân bằng hệ sinh thái sông - biển - đồng bằng, qua công trình cống đập Ba lai đã chứng minh là không tạo được lợi ích và giải quyết được chuyện gì cho cư dân ĐBSCL mà còn đảo lộn điều kiện thiên nhiên, phá vỡ hệ sinh thái của cả một vùng châu thổ.

Như một nhắc nhở và nhấn mạnh, người viết ghi nhận lại nơi đây một đề nghị cụ thể với Thủ Tướng chánh phủ kiến tạo Nguyễn Xuân Phúc: hãy cho hoãn ngay Dự án xây hệ thống cống đập Sông Cái Lớn - Sông Cái Bé một thời gian/ time frame ít nhất là 5 năm, trích 5% ngân sách 3,300 tỷ dự trù cho dự án để thành lập ngay một nhóm nghiên cứu ĐTM độc lập [có thể bao gồm cả các chuyên gia Hoà Lan, họ đã có kinh nghiệm và có công lớn thực hiện một số chương trình khảo sát cơ bản cho ĐBSCL], và bảo đảm rằng Đánh giá Tác động Môi trường được thực hiện một cách công tâm, thận trọng bởi những người không có liên hệ gì tới chủ đầu tư hay nhóm lợi ích, để sau thời gian 5 năm đó, nhà nước sẽ có được một bản tường trình lượng giá ảnh hưởng môi trường đầy đủ khách quan và minh bạch, với tất cả mọi tình huống pros & cons để từ đó mới có quyết định "nên hay không nên" triển khai dự án được mệnh danh là công trình của Thế Kỷ ấy. Cũng trong bản tường trình ấy, cũng không thể thiếu phần điều tra cơ bản về nguyên nhân nào đã khiến 2 triệu cư dân ĐBSCL phải rời bỏ quê hương ra đi tìm kế sinh nhai. Được như thế thì sẽ phù hợp với tinh thần Nghị quyết 120 về ĐBSCL [17/11/2017] trong đó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh nguyên tắc: “thuận thiên, tôn trọng quy luật tự nhiên, tránh can thiệp thô bạo vào thiên nhiên.”


NGÔ THẾ VINH
ĐBSCL 12.2017 - 02.2018


Tham Khảo:
1/ Có còn con sông nước lớn, nước ròng? Lê Quỳnh. Báo Người Đô Thị online Thứ hai, 20/06/2016 http://nguoidothi.net.vn/co-con-con-song-nuoc-lon-nuoc-rong-4042.html
2/ Thiếu vốn, dự án ngọt hóa sông Ba Lai trở thành ... mặn quá. Phạm Văn Tri, TTXVN 06.08.2016 https://baomoi.com/thieu-von-du-an-ngot-hoa-song-ba-lai-tro-thanh-man-qua/c/20027474.epi
3/ Chuyên gia đề nghị tạm dừng dự án thuỷ lợi 3,300 tỷ đồng ở Miền Tây. Huỳnh Xây, Dân Việt, 03.06.2017 http://danviet.vn/nha-nong/chuyen-gia-de-nghi-tam-dung-du-an-thuy-loi-3300-ty-dong-o-mien-tay-775724.html
4/ Phát triển ĐBSCL: Tốn tiền tỷ mà trái quy luật thì trả giá đắt. Nguyễn Hữu Thiện; VietnamNet 27.11.2017 http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/moi-truong/phat-trien-dbscl-ton-tien-ti-ma-trai-quy-luat-thi-tra-gia-dat-413188.html
5/ Ngăn đập sông Cái Lớn - Cái Bé: ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ. Phạm Anh; Tiền Phong 02.06.2017 https://www.tienphong.vn/xa-hoi/ngan-dap-song-cai-lon-cai-be-dbscl-se-bi-anh-huong-khong-nho-1154506.tpo
6/ Băn khoăn xây cống Cái Lớn – Cái Bé, Sáu Nghệ; Ánh Sáng và Cuộc Sống; 26.06.2017 http://anhsangvacuocsong.vn/ban-khoan-xay-cong-cai-lon-cai/