Saturday, August 19, 2017

THẤY VÔ KỂ


Vương Ngọc Minh


Vô Kể, 8/ 2017.
sáp dầu (mix media) trên bố.
cỡ: 30x 42in.

tặng thường quán, nguyễn đức tùng.

sống còn được bao năm qua
chẳng gì do đội rổ hoa ngày ngày
còn thì chả dám nói tài
vào ba ra bảy miệng nhai tay làm
lắm lúc cũng bị càm ràm

chữ dưới mây ngó màu lam
cầm lên lau thành vết chàm trên da  
chạy đông sang tây vậy mà
nào ngờ đầu ghềnh thật xa bụi bờ
lắm lúc chả biết đâu. thơ

đêm ngày nói như cầu cơ
ai nghe chỉ thấy buồn trơ phép phù  
ngọn nguồn khơi tỏ khơi lu
tôi can qua thì mối thù tất quên
lắm lúc ngó có xui. hên

em còn trinh tiết đáp đền
tôi có chăng (!) chỉ tiếng rền- thế thôi
tróc da lóc thịt đãi bôi
mặc quê trôi mặc thậy trôi bộn bề
lắm lúc cơm cháo mê mê

mộng vẫn đăng đăng đê đê
mất còn cũng chỉ miếng mề sắt son
đường về quê con đường con
mà người chật cứng phấn son quá chừng..
..
VƯƠNG NGỌC MINH.

GLOOMY SUNDAY


Tố Nghi 
                              
Gloomy Sunday. Rezso Seress

Gloomy Sunday.Billie Holiday

Gloomy Sunday là một khúc nhạc Hung Gia Lợi nổi tiếng, viết đâu đó trước đệ nhị thế chiến, 1932. Nghe nói tác giả Rezso Seress bị đào đá quắn đít, ôm cái bàn toạ sưng phồng dzìa nhà, ngồi nằm cũng hổng đặng mới lòng dzòng ra đường phố Paris, ngó ông đi qua bà đi lợi, thấy đời sống buồn hiu, thế là ý nhạc xuất hiện trong đầu. Đứa thất tình trở dzìa gác trọ giấy bút viết ra khúc tình ca (trong tư thế chồm hổm có lẽ). Bài hát khi ấy mang ý hướng một lời khẩn cầu, cho dù giai điệu bắt tai nhưng hổng ăn khách lắm. Mãi cho tới thập niên 50 sau đệ nhị thế chiến, một văn thi sĩ đã đặt lời khác cho nó. Lời hát ảo não thê lương làm khúc nhạc dậy tăm dậy tiếng tại Âu châu, hạp tình hạp cảnh với Âu châu điêu tàn đổ nát khi ấy. Tại Mỹ nó được nữ hoàng blue-jazz Billie Holiday hát với một verion mới - hổng rõ của bà hay của ai nữa lận - Gloomy Sunday nổi đình nổi đám tới độ trở thành huyền thoaï "xui xẻo có huông" : Người đang vui nghe nó xìu xìu, người đang xìu nghe liệt giường liệt chiếu, và người thất tình nghe nó tà tà uống thuốc chuột hay nhảy sông nhảy lầu kết thúc cuộc đời. Gloomy Sunday đã gây tới hàng chục vụ tự tử trên khắp thế giới, tới nỗi đài phát thanh BBC đã phải loại nó ra khỏi danh sách nhạc phát sóng mãi tới 2002. Tác giả của nó cũng tà tà tự vận đâu đó cuối thập niên 60.

Gloomy Sunday được dùng làm nền để dựng cuốn phim cùng tựa. Bối cảnh phim xảy ra trong đệ nhị thế chiến tại Budapest – Hungary. Đất Hung đậy sóng, Đức quốc xã tiến quân vào và cuộc tắm máu chủng tộc Do Thái tại Âu châu bắt đầu. Phim kể chuyện tình yêu - tình yêu thuần tuý hay trộn lộn tình dục lại còn tuỳ cảm quan khán giả thưởng ngoạn -
…. Cả Đẫn làm chủ mình một quán ăn ngay thủ đô Budapest. Đẫn đâu đó ba mươi ngoài, mặt mũi phúc hậu, tốt tánh, hiền lành dễ dãi, và tận tụy yêu nghề tới nỗi không bao giờ đóng cửa nhà hàng với bất kỳ lý do gì - tuy có máu Do Thái trong người mà cứ tỉnh bơ mở cửa luôn ngày Sabat - Quán khấm khá, phần vì khung cảnh lịch sự, tiếp đón ân cần, phần vì có món roulade thịt bò cuốn lá lốt hạp khẩu vị thực khách.
Tiệm có cô hầu bàn Thuý Kiều trẻ đẹp dễ ưa, mắt mũi tươi rói trăng rằm, tóc mây buông thả bờ vai, miệng tươi như hoa hàm tiếu và ánh mắt đa tình - liếc một cái nghiêng bàn, liếc hai cái nghiêng ghế - Y chang Đẫn, Thúy Kiều hổng thấy có thân bằng quyến thuộc chi dzáo. Nghe nói có dạo nàng vào Học viện âm nhạc thành phố khoa "thanh nhạc" rồi bỏ đở - bỏ vì thiếu tài hay bỏ vì chiến tranh hổng rõ - Thúy Kiều với Đẫn có tình gắn bó già nhơn ngãi non vợ chồng. Đại khái... tạm thời... Đẫn là đại lý độc quyền không có, chưa có giấy phép chánh thức. Trong đám cây si trồng tại quán, có tiểu thương Mã Giám Sanh từ Đức sang. Mã si mê Thuý Kiều, mỗi bữa tới quán vừa ngó nàng vừa đớp roulade lai rai, chờ dịp thố lộ can tràng. Rồi một dương cầm thủ  được tuyển vào quán chơi nhạc sống tối tối giúp vui. Nhạc sĩ mặt mũi tướng tá sạch nước cản, nhưng chời hỡi chời.. cập mắt buồn rười rượi long lanh nước hồ thu, miệng ngậm tăm như đang nuốt tâm sự vào lòng. Tình tới đây sanh thặng dư nhơn mãn tay ba tay bốn, rối tinh lên chẳng còn biết đâu cắt nghĩa cho thông.
Tình yêu vốn là thứ nhơn gian tới chết vẫn hổng hiểu nổi, ngủm vì nó mà cũng hổng biết tại sao, dzậy mới ly kỳ ! Y hình (dà, bị hổng chắc) tình yêu là chiếm đoạt để sở hữu. Nó là cục hột xoàn to đùng (rất dễ gợi lòng tham đại chúng) trong cái két sắt chỉ có một chìa duy nhứt mà thôi. Nên rồi để chắc ăn, chủ nhơn cái két mới đeo tòng teng chiếc chìa khóa ni ngay cần cổ, "make sure" hổng xảy ra việc trộm đạo làm cái duplicata, rồi thong thả vào ra... đeo ké. Nếu chỉ ngó vào cốt truyện thì phim hổng có chi đậc biệt dzáo chọi. Tình yêu trong Gloomy Sunday làm người xem chưng hửng, hổng tức dùm mà cũng hổng ngậm ngùi dùm luôn - ai biểu ngu ráng chịu - Nhưng... ngộ cái ... người ta vẫn thong thả coi một lèo từ đầu đến cuối, háo hức mà coi cho dù tình tiết hiển nhiên tới độ có thể đoán ra trước kết thúc.

Tóm lợi...  Gloomy Sunday hổng phải drama mà là comedy thứ thiệt, cho dù có tới ba trự lăn cổ ra chết tốt vì tình. Sau cùng Gloomy Sunday hay ở chỗ nào ? Thưa  phim hay vì hình ảnh đẹp, góc quay tới, cắt xén gọn gàng, phân cảnh bố cục đâu vào đấy, trơn tuột êm ru. Phim dẫn người xem vào một âu châu trữ tình và thơ mộng, với khung cảnh sống thi vị mơ hồ lãng đãng, toả ra từ con người, trang phục, sanh hoạt thường nhựt. Vui lòng khách đến vừa lòng khách đi, phim kết thúc và kết thúc rất có hậu,

Xem phim ở đây

Nghe hát ở đây


SAO ANH KHÔNG VỀ CHƠI THÔN VỸ


Nguyễn Xuân Thiệp

Nắng hang cau. Thôn Vỹ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên  
(Đây Thôn Vỹ Dạ)…

Bài thơ của Hàn Mặc Tử qua hơn nửa thế kỷ biển dâu vẫn còn sống trong lòng người Vỹ Dạ xưa và có thể cả trong lòng người yêu văn học Việt Nam nói chung. Nguyễn cũng là người của Thôn Vỹ, thời của nhà thơ siêu thực Võ Ngọc Trác, nên càng yêu càng cảm bài thơ có nắng hàng cau, có thuyền đậu bến sông trăng, có hoa bắp lay trong chiều…

Vừa qua có lời tha thiết kêu gọi họp mặt đăng trên báo chí Cali: “Ai đồng hương Vỹ Dạ?

Ai dâu, ai rể Vỹ Dạ?
Ai con ai cháu Vỹ Dạ?
Ai có dây mơ rễ má đến Vỹ Dạ?
Ai còn tưởng thầy nhớ bạn trường Thế Dạ?

Nhớ về họp mặt đồng hương, đồng môn tại 1452 S Hacienda St Anaheim, CA 92804 lúc 10 giờ sáng ngày Thứ Bảy 10 tháng 5 năm 2014.”

Lời kêu gọi trên gợi ta nghĩ tới ca từ của bài Auld Lang Syne: “Này bạn ơi, liệu ta có thể nào quên đi những thân tình cũ, và không bao giờ hồi tưởng lại nữa? Không đâu, bạn nhỉ, thời gian trôi qua (và dẫu cho giữa chúng ta là biển lãng quên sóng gào), nhưng chúng ta hãy cùng nâng ly cho tình thân ái ngày xưa.”  

Sao anh không về chơi thôn Vỹ. Nguyễn có đọc lời kêu gọi và được bạn Trần Hữu Duận gọi phone bảo qua chơi gặp gỡ anh em bạn cũ người xưa. Ôi, Nguyễn tôi muốn lắm nhưng đã mua vé máy bay đi thăm cháu và tiện thể bay qua thăm bạn đau nặng ở DC, khi về thì không kịp nữa rồi. Thật là đáng tiếc.

Vâng. Nguyễn tôi đã sống những ngày thơ trẻ ở Vỹ Dạ. Học tư với cô Lan trong xóm, rồi tiểu học ở trường Thế Dạ, rồi qua hết những năm trung học cũng ở thành phố Huế, cho đến năm 1957 mới lên tàu lửa đi vào Nam. Bạn bè thời nhỏ ở đó nhiều lắm, phần lớn là con trai nô đùa, nghịch ngợm, phá phách như quỷ sứ. Một số là cousins của Nguyễn hiện ở Virginia lâu lâu lại gặp nhau: Huyền, Bằng, Bài…  Ngoài ra trong đám bạn cùng trang lứa thời bấy giờ có Trần Hữu Duận ở xóm trong, Vĩnh Tiền, Nguyễn Khoa Khiêm và nhiều người nữa tới giờ quên tên. Đó là chưa kể nhóm anh chị em ở gia đình Phật Tử Chơn Tuệ thường họp ở chùa Ba La Mật. Bạn gái, thật sự là bạn, chỉ có Tôn Nữ Dạ Khê, thỉnh thoảng nói chuyện văn chương với nhau. Sau này Nguyễn thường gọi Dạ Khê là trang tú nữ của một thời. Một hôm, nói chuyện qua điện thoại mình hỏi Dạ Khê “Răng hồi nớ mình với Dạ Khê không yêu nhau hè?” Dạ Khê trả lời: “Mi bận quần xà lỏn tau đâu dám nhìn mà yêu!”

Nhà Dạ Khê có bến tắm với cây cao bóng mát, nước trong xanh. Quả thật thời đó Nguyễn còn khờ dại lắm, đầu húi cua, mặc quần xà lỏn, chạy chơi cùng xóm. Bắn chim, hái trộm trái cây vườn nhà người ta, lội qua Cồn Hến bẻ bắp. Nguyễn và mấy anh em thích xuống tắm bến nhà Dạ Khê, leo lên cây cừa (sung) phóng đầu (plonger) xuống nước. Ôi, một thời chơi đùa nghịch ngợm, vui thiệt là vui. Có hôm bạn bè rủ nhau đi chơi, khuya lang thang trên đường về, mấy thằng trời đánh bị dân vệ bắt về đồn ngủ một đêm. Nhưng chơi đùa, nghịch ngợm phải có lúc ngừng lại, để lo học hành và… mơ mộng. Đúng vậy, trí óc các chàng trai bắt đầu nổi lên những hình ảnh lạ thay vì chỉ có dòng sông và bến nước, hàng cau khóm dừa, cây bàng mái ngói Vương Phủ, những trái đào trái mít trong các khu vườn. Bây giờ là tiếng đàn mandolin, những bản nhạc, những tờ quảng cáo xinê, những cuốn Truyền Bá, Hoa Mai, Sách Hồng, Sách Lá Mạ, tiểu thuyết trinh thám Đoan Hùng, Người Nhạn Trắng, tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn. Và người ta bắt đầu làm thơ viết văn đăng báo trở thành nổi tiếng nữa, trời ạ. Còn nữa, chưa hết. Còn mái tóc ai dưới ánh đèn, đôi mắt đẹp như mắt Đức Mẹ của người xưa, rồi cô hàng xóm làn da thơm mùi ánh trăng… Còn Dao Ca (Nguyễn Xuân Thâm), Tạ Ký và thơ Vũ Hoàng Chương…

một đứa em lên rừng. sốt xanh da mặt
một người chị đi lấy chồng. còn để hương lưu trong áo
cô gái vương phủ tắm truồng dưới ánh trăng
(thơ Dao Ca)     

Ôi. Biết bao hồi ức, bao xúc cảm tràn về khi nhắc tới cái tên Vỹ Dạ hay Vương Phủ. Tôi không quên ánh nắng trên những tán lá bàng, hàng sầu đông tím trong chiều, màu sương buổi sáng mai, tiếng mưa đêm đầm đầm trên mái ngói, chim bìm bịp kêu mùa nước lớn, mùi bắp nướng và khoai lang, hột mít lùi tro trong bếp mẹ… Rồi lá thư tình đầu tiên viết dưới ánh đèn, trang tùy bút đầu tiên viết gởi Đời Mới, bài thơ đầu tiên Nhịp Bước Mùa Thu đăng trên Thẩm Mỹ… Và bạn bè bắt đầu gọi ta bằng cái tên Châu Liêm. Sướng ơi là sướng.

Nguyễn tự hào là người Vỹ Dạ. Nguyễn cũng như anh Trúc Chi hãnh diện đã học Trường Đại Học Thế Dạ. Không tự hào và hãnh diện sao được khi “Thôn Vỹ Dạ thuộc thành phố Huế là một vùng đất quy tụ ba dòng họ lớn trong triều đình nhà Nguyễn xưa. Đó là dòng Nguyễn Phước, dòng Nguyễn Khoa và dòng Tôn Thất. Đây cũng là quê hương bản quán của con cháu các dòng họ này nên người dân thôn Vỹ có những nét rất đặc thù, có chút phong kiến xưa, có chút văn minh Âu hóa pha trộn hài hòa với nền nếp phong hóa Việt Nam. Nên người dân Vỹ Dạ dù giàu hay nghèo cũng đều là những người Việt Nam “giấy rách phải giữ lấy lề.” Điều này đã làm nên phong cách của Vỹ Dạ trong hàng thế kỷ, nhưng cho đến nay thì như lời kết luận của Dạ Khê: “Còn chăng là trong tâm tưởng của chúng tôi trong những lần hội ngộ như lần này.”

    Thật ra, đến với Ngày Vỹ Dạ là để gặp bè bạn ngày xưa, cùng nhau thưởng thức lại hương vị những món ăn thời nhỏ ở Vỹ Dạ, nhắc lại câu chuyện của hơn năm chục năm về trước. Ôi, sắc hương đã nhạt phai, nhiều người không còn nữa hay lưu lạc ở phương trời khác. Về đâu Chị Quyên, chị Thương, chị Hồng, Từ Diệm, Từ Khuê, Từ Uyển, Diệu Uyển, Hỷ Khương, Phùng Khánh, Phùng Thăng, Bích Khê, Tỷ Muội… Thôn Vỹ Dạ chỉ còn trong tâm tưởng mỗi người. Cây bàng Vương Phủ không còn. Những hàng cau bị đốn hạ, những khu vườn xanh như ngọc đã bị phá để mở những tụ điểm cà phê ca nhạc ồn ào. Đinh Cường cách đây vài năm về Vỹ Dạ có ghé lại Vương Phủ, chụp hình gởi cho xem, nhưng mọi sự giờ đã khác. Thôi thì trong khi chờ tới hai năm nữa mới gặp lại nhau xin mời các bạn cùng Nguyễn sống lại một thời của Vỹ Dạ trong thơ khi người bỏ Huế ra đi.

NHỊP BƯỚC MÙA THU

sáng nay. tôi lắng bước mùa xưa
chim nhỏ. năm nao. rộn khóm dừa
sông chớm đôi bờ thu quạnh quẽ
đường dài. son đỏ. quán lau thưa

nhà ai. phơi áo. ngoài hiên. gió
nắng tắt trưa qua. lạnh bến chờ
cây ố. sắc tường. vương phủ ấy
trẻ nghèo. nhặt lá. ngói rơi. Hư

nghìn mùa. sương khói. dậy âm vang
lộp bộp. hiên sau. trái rụng vàng
bóng sậu. kêu qua bờ mía dại
xa nhau. mùa thu. mưa trong trăng

em đi. nhịp bước dạo đôi mùa
áo biếc. chìm trong dáng núi xa
trống lẻ. trường bên. hờ hững điểm
hoàng thành vừa chợp giấc mơ trưa

thời đại xây trên lòng quá khứ
tiếng mùa. hốt gió. rắc ly tan
này em. nhìn lại  nương cày cũ
mặt đất. âm u. bặt tiếng đàn
NXT

Wednesday, August 16, 2017

CUNG GIŨ NGUYÊN: TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM


Trương Vũ

(Bài viết sau đây nguyên là bài thuyết trình của Trương Vũ đọc trong buổi ra mắt tác phẩm Le Boujoum, do các học trò cũ của nhà văn Cung Giũ Nguyên tổ chức tại giảng đường đại học George Mason, Virginia vào tháng 11, 2003.)

Nhà văn Cung Giũ Nguyên (1909-2008)

Nhà văn Cung Giũ Nguyên sinh năm 1909 tại Huế. Lấy tên thật làm bút danh. Cựu học sinh trường Quốc Học Huế. Trước 1954, làm phóng viên và biên tập viên nhiều nhật báo và tạp chí tiếng Việt và tiếng Pháp. Chủ bút nhật báo Le Soir d’Asie (Á Châu Buổi Chiều) (1940-1941) và nhật báo La Presse d’Extrême-Orient (Viễn Đông Thời Báo) vào 1954. Từ 1947, dạy Pháp văn ở trung học và sau đó làm hiệu trưởng trường trung học Lê Quý Đôn ở Nha Trang. Từ 1972 đến 1975, giáo sư và chủ nhiệm ban Pháp văn tại Đại học Duyên hải Nha Trang. Từ 1989 đến 1999, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Pháp tại trường Cao đẳng Sư phạm Nha trang. Ông là thầy của rất nhiều thế hệ học sinh và sinh viên Nha Trang, kể cả thế hệ đầu tiên, bước chân vào trường trung học Võ Tánh năm 1947, lúc đó còn mang tên Collège de Nha Trang.

Cung Giũ Nguyên viết văn bằng tiếng Pháp, Việt, và Anh. Ông đã sáng tác và dịch trên 50 tác phẩm. Sáng tác đầu tiên bằng tiếng Việt là một truyện ngắn nhan đề “Tình ái mỹ” đăng ở Đông Pháp Thời Báo Sài Gòn năm 1928. Sách tiếng Pháp đã xuất bản gồm có: Volontés d’Existence (“Những ý chí sống còn”, tiểu luận), Le Fils de la Baleine (“Kẻ thừa tự của ông Nam Hải”, tiểu thuyết), Le Domaine Maudit (“Vùng Cấm”, tiểu thuyết), … Le Fils de la Baleine đã được dịch sang tiếng Đức và xuất bản năm 1957 tại Genève và Francfort dưới nhan đề Der Sohn des Walfischs. Trong vòng một năm, 1958, tiểu thuyết này đã được tái bản đến lần thứ mười tại Pháp, do nhà xuất bản Arthème Fayard, Paris.

Tác phẩm quan trọng nhất của Cung Giũ Nguyên là Le Boujoum, tiểu thuyết. Tác phẩm được khởi sự viết một năm sau biến cố 1975 và hoàn tất năm 1980 tại Nha Trang. Cũng trong năm này, một chương trong tác phẩm, Khúc Hát của Amdo (“Le Chant d’Amdo”), đã được đăng tải trên một tạp chí văn học ở Pháp, với lời giới thiệu và ngợi khen đầy nhiệt tình của giáo sư Camille Souyris, chủ biên của tạp chí. (“Fer de Lance”, Rythmes et Couleurs, Cannes, France, Décembre 1980). Le Boujoum được dự trù xuất bản ở Pháp vào đầu thập niên 80, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đặc biệt là sự khó khăn tài chánh của nhà xuất bản Arthème Fayard vào lúc đó, sách không ra đời được. Đây là một tác phẩm khó đọc, nó giới hạn số độc giả, và không ai hy vọng nó mang lại một lợi tức tài chánh cho nhà xuất bản. Năm 1993, nhà xuất bản Đại Nam ở Hoa Kỳ đề nghị tác giả dịch Le Boujoum sang tiếng Việt. Tác giả đồng ý và Le Boujoum chuyển sang tiếng Việt thành Thái Huyền, chia làm hai tập. Sau khi xuất bản tập I vào năm 1994, nhà xuất bản lỗ vốn, và quyết định không xuất bản tập II. Cách đây hai năm, một vài học trò cũ của nhà văn Cung Giũ Nguyên quyết định cho xuất bản Le Boujoum. Với một lý do rất đơn giản, ít nhất với những người học trò này, đây là một cuốn sách rất cần được xuất bản, rất đáng được đọc, và không hẳn là một cuốn sách khó đọc như nhiều người nghĩ. Năm 2002, Le Boujoum, tiểu thuyết, dày 654 trang, được Trung Tâm Cung Giũ Nguyên ở Hoa Kỳ xuất bản. Như cái số phận vốn long đong của nó, đến mãi hôm nay, ngày 16 tháng 11 năm 2003, nó mới được chính thức ra mắt người đọc, tại giảng đường Luật Khoa Đại Học George Mason, Virginia, Hoa Kỳ.

Trong bài viết này tôi không nhằm làm công việc của một nhà phê bình văn học. Tôi chỉ muốn đóng góp một ít thông tin về con người của tác giả và về bối cảnh để tác giả xây dựng nên tác phẩm.

Cuốn tiểu thuyết được xây dựng bằng một cấu trúc kỳ lạ, có lẽ không giống cấu trúc của bất cứ một cuốn tiểu thuyết nào mà bạn đã đọc. Mở những trang đầu của sách, người đọc có thể cảm nhận được điều đó ngay, khi đọc những câu rất đặc biệt mà tác giả trích dẫn từ cuốn The Hunting of the Snark của Lewis Carroll: “Bởi Snark (…) là một boujoum, các bạn hãy hình dung đi. Trước kia tôi chẳng hiểu nghĩa nó là gì. Bây giờ tôi vẫn không hiểu.”

Tác giả là một trí thức thuộc tinh thần Phục Hưng, a Renaissance man, có một hiểu biết sâu rộng về nhiều vấn đề khác nhau, nhất là những vấn đề đang chi phối nếp sống, cách suy nghĩ, ước mơ và thao thức của con người. Những nhân vật của truyện và những vấn đề đặt ra trong truyện ít nhiều chịu ảnh hưởng của tinh thần này. Có vẻ như cuốn sách đòi hỏi người đọc phải có kiến thức trong nhiều lãnh vực khác nhau, những kiến thức về toán học hay về cơ học lượng tử chẳng hạn. Thật ra, dù người đọc không có những kiến thức đó, ông ta vẫn có thể tiếp cận được với tác phẩm một cách thoải mái. Cũng giống như trong đời sống thật có biết bao vấn đề mà mình chẳng biết gì hết, mà mình vẫn có thể sống hết mình và tận hưởng được mọi cái thi vị của cuộc sống. Chính những cái “không biết” hiện diện ở trong truyện làm cho nó gần với đời sống thật hơn. Tuy nhiên, nếu bạn cố gắng đi tìm cốt truyện thì không khéo, bạn lạc vào một khu rừng rậm không lối ra, cho dù sau khi bạn tin rằng bạn đã tìm được nó.

Là một tín đồ Công giáo, tác giả vẫn hâm mộ và nhận thức một cách sâu xa những tinh hoa của các tôn giáo khác, như Lão giáo và Phật giáo, và đặc biệt là Lão giáo. Amdo va Domicella được tái tạo từ Vườn Địa Đàng, cùng với cái đối đãi giữa âm và đương, cái quan niệm trong dương có âm, trong âm có dương, hoặc ý niệm về đâu là chỗ bắt đầu, đâu là chỗ kết thúc, ý niệm về chiều thời gian, lúc nào tới, lúc nào lui, v.v… Tính cách này cũng được biểu lộ rõ rệt khi tác giả chọn hai chữ Thái Huyền cho bản dịch tiếng Việt. Cũng như, khi tác giả cho đăng lại vài dòng trên bức hí họa ở bìa sau của Le Boujoum, lấy từ câu nói của đệ tử một thiền sư Trung Quốc (Trước khi theo Thầy lên núi học đạo, thấy núi là núi thấy sông là sông. Khi học đạo, thấy núi không còn là núi thấy sông không còn là sông. Sau khi học đạo, thấy núi cũng chỉ là núi thấy sông cũng chỉ là sông). Có phải là để người đọc tự vấn “khi đọc sách này, anh thấy sông là sông, hay không phải là sông?”

Cách đây hơn 30 năm, các cựu học sinh của trường trung học Võ Tánh Nha Trang tổ chức một buổi họp mặt tại trường cũ, để thăm lại trường xưa và đồng thời cũng để tỏ lòng nhớ ơn thầy cô giáo cũ của minh. Nhiều cựu học sinh lên phát biểu cảm tưởng. Có người cho rằng cái thời còn đi học ở mái trường thật là tuyệt vời và ước sao mình vẫn còn cặp sách đến trường như thuở nào. Có người tiếc rằng hồi đó mình còn trẻ thơ nên không hiểu được lòng thương yêu vô bờ của thầy cô đối với mình, nếu bắt đầu trở lại, chắc chắn sẽ khác đi, v.v… Nghĩ thật mà nói cũng có, nói cho đúng “sách vở” cũng có, và nói cho phải đạo cũng có. Khi đến lượt thầy Nguyên lên phát biểu, thầy kể câu chuyện về Orpheus trong thần thoại Hy Lạp. Orpheus là vị thần của âm nhạc. Những bài thơ và tiếng hát của ông có khả năng cứu sống cả một đoàn thủy thủ bị ma quỷ hóa hình mỹ nhân ngư để dụ dỗ và ám hại. Ông có một người vợ rất đẹp mà ông rất yêu quí là Eurydice. Trong một cuộc săn đuổi vì chính sắc đẹp của mình, Eurydice bị rắn độc cắn chết. Vô cùng thương xót, Orpheus tìm mọi cách để cứu vợ. Nhờ tiếng đàn tuyệt vời khiến những vị thần giữ cửa địa ngục sao nhãng, ông lẻn vào được âm cung. Cảm động trước tấm lòng và tiếng hát của Orpheus, các tử thần đồng ý cho Eurydice đi theo ông trở lại thế gian, chỉ với điều kiện là trên đường đi Orpheus không được ngoái nhìn lại Eurydice. Nhưng Orpheus đã ngoái lại, Eurydice liền tan biến và mất vĩnh viễn. Orpheus trở nên điên loạn, cuối cùng kết thúc cuộc đời mình một cách thảm khốc.

Câu chuyện thần thoại đó hầu như ai cũng biết, nhưng những lời phát biểu của ông vào lúc đó gây cho chúng tôi một ấn tượng mạnh về cái ngụ ý ông muốn gởi đến chúng tôi. Có điều, không phải bất cứ bài học nào của thầy cũng được học trò mang theo ra khỏi cổng trường. Nhưng với ông, về điều ông muốn nhắn nhủ chúng tôi, tôi tin ông sống rất thật với nó. Tôi tin chắc thầy Nguyên có rất nhiều mất mát trong đời ông, và dĩ nhiên là ông ý thức rất rõ về những mất mát đó, nhưng ông không bao giờ chịu để những mất mát đó đánh gục ông. Tinh thần này bàng bạc trong những sáng tác của Cung Giũ Nguyên. Đồng thời, trong Le Boujoum, cũng có rất nhiều bài thơ và tiếng hát biểu lộ phong cách đó.

Cung Giũ Nguyên khởi đầu viết Le Boujoum từ 1976 và hoàn tất năm 1980 ở Nha Trang. Người đọc có thể cảm nhận được ảnh hưởng sâu đậm của thời gian và không gian này trong tác phẩm. Tôi còn nhớ rất rõ những kỷ niệm với ông vào những ngày cuối tháng ba năm 1975 tại Nha Trang. Thành phố hỗn loạn. Người chạy tứ tán. Từ nơi khác chạy đến thành phố, từ thành phố chạy đi, chạy loanh quanh ngơ ngác. Một buổi sáng, đài phát thanh phát lệnh truyền cho mọi quân nhân và công chức ở nguyên tại nhiệm sở. Tôi với ông đến dự một phiên họp bất thường của đại học. Phiên họp chưa bắt đầu thì được tin riêng cho biết thành phố đã bỏ ngõ. Đài phát thanh thật ra chỉ phát lại thông lệnh đã thâu hôm trước, và vẫn còn tiếp tục phát. Tôi thấy ông ngồi im lặng, cuối cùng ông chỉ nói một câu, làm lạnh cả phòng họp: “Chúng ta thua trận vì chúng ta có quá nhiều người có quyền hành mà vô trách nhiệm”. Tối hôm đó, tội phạm từ quân lao thoát ra, súng nổ suốt đêm, khắp mọi hướng, từ mọi góc đường, không ai phân biệt được từ phe nào, nhóm nào. Thành phố dẫy chết. Vài hôm sau, tiếng súng ngưng, những chiếc T54 đầu tiên tiến vào thành phố, và một giai đoạn mới bắt đầu.

Tôi vẫn tiếp tục gặp ông, trò chuyện, hay làm chung với ông vài công việc lỉnh kỉnh ở trường, cho đến ngày tôi lặng lẽ rời quê hương, tháng 3 năm sau. Từ đó tôi không còn có mặt để cảm nhận thật sâu sắc tâm trạng và cuộc sống của mỗi con người ở thành phố này. Nhưng tôi nghĩ tôi có thể hiểu một cách đơn giản là những con người đó đang bị thời gian bỏ quên và thế giới bỏ quên. Và mặc dầu tôi có thể cảm nhận được nỗi cô đơn cùng cực của họ, tôi không thể hình dung nổi làm sao mỗi một con người mà tôi biết, tồn tại được khi thân phận của họ mong manh như vậy. Tôi không dám nghĩ đến những điều gì lớn hơn. Tôi hoàn toàn không biết rằng trong khoảng thời gian đó Thầy Nguyên đã ngồi viết Le Boujoum. Mà lúc đó chỉ riêng cái chuyện trên thế gian không ai tưởng tượng nổi lại có thể là một vấn đề cho con người, là chuyện kiếm một tờ giấy để viết, thì ở nơi thầy đang sống, học trò lớn nhỏ được nhà trường khuyến khích đi nhặt giấy vụn từ những đống rác, gọi là kế hoạch nhỏ. Tác phẩm Le Boujoum đã được hoàn tất trong một bối cảnh như vậy. Nhưng điều quan trọng cho một trí thức, đặc biệt cho người làm văn học, là tác phẩm dù có lấy chất liệu từ tim óc, từ thực tế của thời gian và không gian đó, giá trị của nó và cái nó nhằm đạt tới đã vượt qua khỏi cái thời gian ngắn ngủi và không gian nhỏ hẹp này. Ngày nay, hơn hai mươi năm sau, ở xa nửa vòng trái đất, khi đọc Le Boujoum, chúng ta có thể vẫn thấy bóng dáng mình, quẩn quanh đâu đó trong tác phẩm. Bóng dáng mình của ngày hôm nay, ở đây. Cũng như, có thể cảm thấy rằng cái kết thúc trong Le Boujoum của Cung Giũ Nguyên lại biết đâu cũng là cái khởi đầu một cách rất “Boujoum” của chính cuộc đời mình?

Nhà văn Cung Giũ Nguyên đã mở đầu cuốn tiểu thuyết Le Boujoum không giống như cách mở đầu thường thấy trong những cuốn tiểu thuyết khác, mà… chỉ như một tiếp nối: “… một vật lơ lửng trên vực thẳm, được những sợi tơ mành của hy vọng giữ lại. Hy vọng nơi ai? Hy vọng nơi gì? Và có lý do nào để hy vọng? Nhờ biệt lệ nào được nâng đỡ như thế này, trong thời gian có giới hạn nhất định. Hay ta lại muốn cho thời gian còn kéo dài mãi, hay ít ra còn lâu nữa mới chấm dứt. Bởi tánh cách đột ngột của sự việc quá rõ ràng, nhưng một mối đầu luôn luôn phải có đối ứng tất yếu là đầu mối kia. Tuy sự quên lãng những quy luật thường đi đôi với ảo tưởng. / Dưới kia là một vực thẳm âm u cuồn cuộn…” Và, cuối sách, kết thúc bằng một câu giống như câu đã bắt đầu với chỉ thêm một tĩnh từ.

Trong những năm gần đây ở hải ngoại, nhiều nhà phê bình văn học tranh luận về văn chương hậu hiện đại, nhưng chưa thấy ai khẳng định và được sự đồng ý của hơn một nhà phê bình, là một tác phẩm nào đó của văn chương Việt Nam được xem là hậu hiện đại. Le Boujoum, được viết cách đây hơn 20 năm ở trong nước, theo tôi, rất đáng để trở thành một đề tài tranh luận nghiêm túc về văn chương hậu hiện đại của những nhà văn Việt Nam, dùng bất cứ ngôn ngữ nào để hoàn thành tác phẩm.

Hôm nay, 16 tháng 11 năm 2003. Chỉ còn 4 ngày nữa là sinh nhật thứ 94 của Thầy Nguyên. Chín mươi bốn tuổi. Tuy vậy, hằng ngày, ông vẫn ngồi trước máy vi tính, cặm cụi làm việc, hoặc sáng tác, hoặc trao đổi điện thư với bạn bè, người thân, và các học trò cũ ở những nơi rất xa. Tôi tự hỏi, không biết những lúc cặm cụi làm việc như vậy, ông có nghĩ đến những dòng chữ ông đã dùng để kết thúc Le Boujoum : “...một vật mỏng manh lơ lửng trên vực thẳm, được những sợi tơ mành của hy vọng giữ lại.” Và, tôi cũng tự hỏi, không biết, ông có mỉm cười một cách hài lòng là ông đã chỉ kết thúc như vậy rồi “chấm chấm chấm” mà không viết tiếp, như khi bắt đầu: “Hy vọng nơi ai? Hy vọng nơi gì? Và có lý do nào để hy vọng?”

TV
Virginia, tháng 11 năm 2003

BẠT

Nhà văn Cung Giũ Nguyên mất lúc 3 giờ 15 phút sáng ngày 7 tháng 11 năm 2008 trong căn nhà riêng của ông trên đường Hoàng Văn Thụ, Nha Trang. Rất đông hướng đạo sinh mặc đồng phục cùng với học trò cũ và đồng nghiệp tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Đại diện các học trò đã đọc điếu văn trước khi hạ huyệt. Ông được chôn bên cạnh mộ vợ và con gái, mất trước đó khoảng hai năm. Ông thọ gần đúng một trăm tuổi. Hiện diện trong tang lễ có một thiếu phụ cầm lư nhang đi trước quan tài. Thiếu phụ này là con gái ông với nhà văn NTH, kết quả một mối tình lãng mạn và đầy sóng gió vào cuối thập niên 50.

Bài điếu văn do Trương Vũ viết, thay mặt Trung Tâm Cung Giũ Nguyên và các học trò của ông ở hải ngoại. Sau đây là một vài trích đoạn trong bài điếu văn đó:

“… Học trò Thầy rời mái trường đã lâu lắm rồi, hầu hết đầu đã bạc, vậy mà âm vang những câu chuyện hay bài học “ngoài môn học”, hay những lời giảng về cách nhìn cuộc đời, cách nhìn một thế giới lớn rộng hơn cái không gian nhỏ bé của mình hay vượt ngoài cái thời gian hạn hẹp của mỗi đời người, dường như vẫn còn đâu đó…

Bài học nhiều lắm. Chúng con chỉ muốn nhắc lại ba bài học chính của Thầy, được nhắc đi nhắc lại rất nhiều, mà chúng con phải học mãi trong suốt cuộc đời mình. Những bài học ngỡ rằng đơn giản nhưng thật không dễ học… Nhắc lại ở đây như một lời biết ơn trước khi nói lời vĩnh biệt Thầy:

Hãy luôn nhìn về tương lai. Hãy luôn làm việc hết mình và không ngừng học hỏi. Hãy nuôi hy vọng.

Thời gian mấy mươi năm qua, học trò Thầy và cả chính Thầy, đã trải qua bao thăng trầm. Càng thấm thía với những lời dạy này. Với rất nhiều học trò của Thầy, nó trở thành một cái phao tinh thần cho cuộc đời họ. Bởi vì, trong suốt mấy mươi năm qua, có mấy ai không có những lúc muốn quỵ xuống, muốn buông xuôi, muốn bỏ cuộc, muốn mặc cho thế sự quay cuồng như thế nào, quay mình đi như thế nào. Bài dạy chỉ thật sự có tác dụng nếu chính người dạy tin và sống theo đó. Từ những nơi rất xa nhìn về quê nhà, thấy cách sống của Thầy, ở vào tuổi của Thầy mà vẫn lừng lững không chịu thua với khả năng tàn phá của thời gian, của thời cuộc, học trò Thầy ngưỡng mộ vô cùng…

TRƯƠNG VŨ
Maryland, tháng 8 năm 2017